Căng thẳng do nắng nóng kéo dài là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong liên quan đến thời tiết, đồng thời làm trầm trọng các bệnh nền như tim mạch, tiểu đường, hen suyễn và rối loạn tâm thần. Say nắng là một cấp cứu nguy hiểm với tỷ lệ tử vong cao, đặc biệt ở người trên 65 tuổi.
Khi nhiệt độ duy trì ở mức cao cả ngày lẫn đêm, cơ thể phải chịu áp lực tích lũy, làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh và tử vong do tiếp xúc với nhiệt.
Sau đây, WHO chỉ ra những tác hại nghiêm trọng của nắng nóng đối với sức khỏe, đồng thời đưa ra lời khuyên quan trọng về việc sử dụng quạt, máy lạnh khi nhiệt độ trên 40 độ C.
Khi thời tiết quá nóng, cơ thể không kịp tỏa nhiệt, khiến nhiệt tích tụ bên trong, làm tăng nguy cơ kiệt sức và say nắng.
Cơ thể khi cố gắng tự làm mát cũng gây căng thẳng cho tim và thận. Hậu quả là nhiệt độ cực đoan có thể làm trầm trọng thêm các nguy cơ sức khỏe từ các bệnh mạn tính như các bệnh về tim mạch, tâm thần, hô hấp và tiểu đường và gây tổn thương thận cấp tính, theo trang web của WHO.
Những người làm việc ngoài trời như lao động chân tay, vận động viên hay nhân viên bảo vệ thường xuyên phải tiếp xúc với nhiệt độ cao, nên dễ rơi vào tình trạng căng thẳng do nhiệt, đặc biệt khi hoạt động kéo dài.
WHO đưa ra một số lời khuyên như sau:
Tránh nắng trực tiếp: Hạn chế ra ngoài và hoạt động gắng sức vào thời điểm nóng nhất trong ngày, ưu tiên ở trong bóng râm. Lưu ý, nhiệt độ cảm nhận dưới ánh nắng có thể cao hơn 10 – 15°C. Nên dành 2 – 3 giờ mỗi ngày ở nơi mát mẻ.
Giữ không gian sống thông thoáng: Tận dụng không khí ban đêm để làm mát nhà bằng cách mở cửa sổ. Ban ngày, đóng cửa, kéo rèm để hạn chế ánh nắng trực tiếp và tắt bớt thiết bị điện không cần thiết.
Làm mát cơ thể và uống đủ nước: Mặc quần áo rộng, nhẹ, thoáng; tắm nước mát; có thể dùng khăn ẩm hoặc xịt khoáng để hạ nhiệt. Uống nước thường xuyên (khoảng 1 ly mỗi giờ, tổng 2 – 3 lít/ngày).
Đặc biệt lưu ý nhóm dễ bị ảnh hưởng do nắng nóng như người trên 65 tuổi, người mắc bệnh tim, phổi, thận, người khuyết tật, người sống một mình, cùng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.
Chỉ sử dụng quạt máy khi nhiệt độ không khí dưới 40 độ C. Ở nhiệt độ trên 40 độ C, quạt sẽ làm nóng cơ thể.
Nếu sử dụng máy lạnh, nên đặt ở mức khoảng 27 độ C và kết hợp quạt để tăng hiệu quả làm mát, giúp căn phòng cảm thấy mát hơn khoảng 4 độ C. Cách này còn có thể giảm tới 70% chi phí điện cho việc làm mát, theo WHO.
Ngày 8.4, theo thông tin từ Bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ, các bác sĩ Khoa Ngoại Lồng ngực vừa can thiệp kịp thời bảo tồn chân trái cho một bệnh nhân bị đau chân kéo dài do bệnh lý động mạch chi dưới nặng có nguy cơ hoại tử và cưa chân.
Trước đó, bệnh nhân Ng.V.Đ (70 tuổi, quê ở An Giang) nhập viện trong tình trạng loét gót chân dần mở rộng, lâu lành, cẳng bàn chân trái đau dai dẳng kéo dài hơn 3 tháng cùng nhiều bệnh lý nền như tăng huyết áp, tiểu đường…
Qua thăm khám lâm sàng, các bác sĩ ghi nhận động mạch đùi, động mạch khoeo và động mạch dưới gối chân bên trái của bệnh nhân không bắt được. Kết quả siêu âm Doppler mạch máu chi dưới ghi nhận tắc động mạch chậu bên trái, mất phổ 3 pha động mạch đùi, khoeo chân trái. Bệnh nhân được chụp cắt lớp vi tính mạch máu chi dưới (CTA) để đánh giá cụ thể và chính xác hơn tình trạng bệnh lý mạch máu, vị trí tắc nghẽn, mức độ tổn thương mạch máu.
Kết quả cho thấy bệnh nhân bị tắc động mạch chậu bên trái, tắc 1/3 giữa động mạch đùi bên trái và xơ vữa rải rác các động mạch chi dưới khác.
Bệnh nhân được chỉ định can thiệp nội mạch để kịp thời tái thông các mạch máu bị tắc gồm động mạch chậu và động mạch đùi nông bên trái.
Quá trình can thiệp, bệnh nhân được nong bóng và đặt 1 stent 06 x 58 mm vào động mạch chậu trái và nong bóng động mạch đùi bên trái. Sau can thiệp, tình trạng của bệnh nhân được cải thiện rõ, chân ấm, giảm đau chân và tiếp tục điều trị nội khoa.
Theo bác sĩ chuyên khoa 2 Nguyễn Văn Trang, Trưởng khoa Ngoại Lồng ngực, việc can thiệp kịp thời không chỉ giúp bệnh nhân giữ lại chân trái mà còn ngăn chặn nguy cơ hoại tử và phải cắt cụt chi. Với chân còn lại, bác sĩ đã xây dựng kế hoạch theo dõi, thăm khám định kỳ chặt chẽ nhằm phòng ngừa các biến chứng nguy hiểm.
Cũng theo bác sĩ Nguyễn Văn Trang, bệnh động mạch chi dưới là tình trạng các động mạch, từ động mạch chủ bụng đến hệ mạch ở chân, bị hẹp, làm giảm lưu lượng máu nuôi cơ, da và thần kinh ở vùng phía dưới. Nếu không được phát hiện và điều trị sớm, bệnh có thể tiến triển gây teo cơ, loét, hoại tử chi, lan dần từ ngọn đến gốc, thậm chí buộc phải cắt cụt chi.
Hiện nay, phương pháp can thiệp nội mạch cho hiệu quả tương đương phẫu thuật bắc cầu, đặc biệt với các tổn thương trên gối. So với phẫu thuật, kỹ thuật này có nhiều ưu điểm như chỉ cần gây tê tại chỗ, tránh mổ lớn và giúp người bệnh phục hồi nhanh, có thể sinh hoạt bình thường sau 24 - 48 giờ.
Chiều 5-4, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật TP.HCM (HCDC) đã chia sẻ những “bí kíp” giúp bù nước và dinh dưỡng hiệu quả trong mùa nắng nóng.
Những khuyến cáo này nhằm giúp người dân chủ động phòng tránh tình trạng mất nước và duy trì cân bằng điện giải cho cơ thể trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt.
Theo HCDC, trong điều kiện thời tiết nắng nóng kéo dài, cơ thể dễ mất nước do tăng tiết mồ hôi để điều hòa thân nhiệt.
Tuy nhiên, nhiều người chỉ uống nước khi cảm thấy khát, trong khi đây đã là dấu hiệu cho thấy cơ thể bắt đầu thiếu nước.
Để duy trì trạng thái cân bằng, người trưởng thành cần uống khoảng 1,5 – 2 lít nước mỗi ngày và tăng thêm khi làm việc trong môi trường nóng hoặc vận động nhiều.
Việc uống nước nên được chia đều trong ngày, từng ngụm nhỏ, thay vì uống dồn vào một thời điểm.
Đối với người lao động ngoài trời, việc bổ sung nước định kỳ, khoảng 100 -150 ml mỗi 15-20 phút là cần thiết để hạn chế nguy cơ mất nước. Nước đun sôi để nguội và nước sạch vẫn là lựa chọn phù hợp nhất.
Bên cạnh nước, cơ thể còn mất đi các muối khoáng quan trọng khi đổ nhiều mồ hôi. Nếu chỉ bù nước đơn thuần, cơ thể có thể rơi vào tình trạng rối loạn điện giải, gây mệt mỏi, chuột rút hoặc nặng hơn.
Trong những trường hợp này, việc sử dụng dung dịch bù điện giải như Oresol có thể giúp phục hồi cân bằng nước và khoáng chất hiệu quả.
Tuy nhiên, dung dịch này cần được pha đúng theo hướng dẫn, không tự ý điều chỉnh nồng độ. Khi không có sẵn, có thể tạm thời sử dụng dung dịch tự pha từ nước, đường và muối với tỉ lệ phù hợp để hỗ trợ bù nước.
Chế độ dinh dưỡng hằng ngày cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giúp cơ thể thích nghi với nắng nóng.
Việc tăng cường rau xanh và trái cây tươi không chỉ bổ sung vitamin, khoáng chất mà còn cung cấp thêm lượng nước tự nhiên cho cơ thể. Trong bữa ăn, các món canh nên được duy trì để hỗ trợ bù nước và giúp ăn uống dễ dàng hơn khi thời tiết oi bức.
Ngược lại, cần hạn chế sử dụng rượu, bia do có thể làm tăng tình trạng mất nước. Các loại đồ uống chứa caffeine hoặc nhiều đường như cà phê đậm, nước ngọt có gas cũng không được khuyến khích vì có thể gây lợi tiểu. Đồng thời, việc tiêu thụ quá nhiều thực phẩm giàu đạm trong những ngày nắng nóng cũng có thể làm tăng sinh nhiệt trong cơ thể, khiến cảm giác mệt mỏi rõ rệt hơn.
Một số nhóm cần được lưu ý đặc biệt trong thời tiết nắng nóng là trẻ dưới 6 tháng tuổi nên được bú mẹ hoàn toàn, vì sữa mẹ đã cung cấp đầy đủ nước và dưỡng chất cần thiết.
Phụ nữ mang thai và cho con bú cần uống đủ nước mỗi ngày để đảm bảo sức khỏe cho cả mẹ và bé. Trong mọi trường hợp nghi ngờ say nắng, say nóng, không nên tự ý sử dụng thuốc hạ sốt khi chưa có hướng dẫn của nhân viên y tế, đặc biệt đối với trẻ nhỏ.
HCDC nhấn mạnh, chủ động bù nước và duy trì chế độ dinh dưỡng hợp lý là những biện pháp đơn giản nhưng có ý nghĩa quan trọng trong việc phòng ngừa các vấn đề sức khỏe do nắng nóng. Thực hiện đều đặn mỗi ngày sẽ giúp cơ thể thích nghi tốt hơn với điều kiện thời tiết khắc nghiệt, góp phần bảo vệ sức khỏe cho bản thân và gia đình.
Việc uống nước đúng cách, kết hợp chế độ dinh dưỡng hợp lý, không chỉ giúp cơ thể duy trì thể trạng mà còn góp phần phòng ngừa say nắng, say nóng hiệu quả.
Ngày 12-4, Hội Ung thư Việt Nam phối hợp với AstraZeneca Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề: “Kỷ nguyên mới trong điều trị ung thư phổi: Hiện thực hóa mục tiêu triệt căn cùng liệu pháp nhắm trúng đích và miễn dịch”.
Tại hội thảo, TS.BS Diệp Bảo Tuấn - Giám đốc Bệnh viện Ung bướu TP.HCM - cho biết ung thư phổi tiếp tục là một trong các thách thức y học hàng đầu tại Việt Nam cũng như toàn cầu.
Theo số liệu Globocan 2022 và Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hằng năm nước ta ghi nhận hơn 24.000 ca ung thư phổi mới (đứng thứ 3 trong các loại ung thư) và gần 22.600 ca tử vong vì bệnh này (đứng thứ 2 về số ca tử vong do ung thư).
Mặc dù có nhiều tiến bộ, việc tiếp cận các phương pháp điều trị ung thư phổi tại Việt Nam vẫn còn hạn chế, với tỉ lệ phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn còn cao, tạo ra gánh nặng rất lớn. Theo thống kê, có tới 84% bệnh nhân ung thư phổi được chẩn đoán khi bệnh đã ở giai đoạn muộn, chỉ khoảng 16% được phát hiện sớm.
TS.BS Phạm Xuân Dũng - Chủ tịch Hội Ung thư TP.HCM - cũng cho hay ung thư phổi đang có xu hướng gia tăng cả về số ca mắc mới lẫn tử vong, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển.
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã có nhiều bước tiến đáng kể, tiệm cận trình độ khu vực và thế giới trong các phương pháp điều trị như hóa trị, xạ trị và phẫu thuật. Tuy nhiên thách thức lớn vẫn nằm ở việc nâng cao hiệu quả điều trị, đặc biệt với những trường hợp bệnh tiến xa, ít còn lựa chọn điều trị khả quan.
Từ cuối thế kỷ 20 và trong hai thập niên đầu thế kỷ 21, điều trị ung thư phổi đã có bước chuyển mình với sự xuất hiện của hai “vũ khí” quan trọng: liệu pháp nhắm trúng đích và liệu pháp miễn dịch.
Khi được kết hợp với các phương pháp truyền thống như hóa trị, xạ trị và phẫu thuật, những tiến bộ này đã làm thay đổi đáng kể cách tiếp cận và tiên lượng bệnh.
“Trước đây, với ung thư phổi giai đoạn muộn đã di căn, thời gian sống thêm thường dưới 12 tháng. Tuy nhiên hiện nay, không hiếm trường hợp bệnh nhân có thể sống thêm 2 - 4 năm. Điều này cho thấy chúng ta đang tiến gần hơn đến mục tiêu cá thể hóa trong điều trị ung thư”, BS Dũng nói.
Tương tự, BS Tuấn cho biết các liệu pháp toàn thân hiện đại, bao gồm liệu pháp nhắm trúng đích ở nhóm có đột biến EGFR và liệu pháp miễn dịch đang dịch chuyển gần hơn đến các giai đoạn sớm hơn của bệnh, và tiến đến thay đổi chiến lược điều trị từ “điều trị kéo dài sống còn” đến “hiện thực hóa mục tiêu triệt căn”.
“Nếu chỉ điều trị bằng hóa trị, thời gian sống người mắc ung thư phổi ở giai đoạn 4 thường chỉ khoảng 8 - 9 tháng. Trong khi đó, với liệu pháp miễn dịch có thể tăng thời gian sống lên khoảng 33 tháng”, BS Tuấn so sánh.
Theo các chuyên gia, các liệu pháp toàn thân hiện đại, bao gồm liệu pháp nhắm trúng đích ở nhóm có đột biến EGFR và liệu pháp miễn dịch đang dịch chuyển ngày một gần hơn đến các giai đoạn sớm hơn của bệnh, và tiến đến thay đổi chiến lược điều trị từ “điều trị kéo dài sống còn” đến “hiện thực hóa mục tiêu triệt căn”.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, cần đẩy mạnh các xét nghiệm di truyền và sinh học phân tử, phát triển các liệu pháp nhắm trúng đích và miễn dịch, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn ngày, cũng như đổi mới trong nghiên cứu lâm sàng nhằm tối ưu hóa phác đồ điều trị cho từng bệnh nhân.