Theo EVN, với tỷ trọng năng lượng tái tạo trong cơ cấu nguồn điện ngày càng cao, BESS sẽ phát huy hiệu quả rõ ràng trong việc nâng cao tính ổn định của hệ thống điện. Đáng kể, BESS góp phần phủ đỉnh phụ tải, qua đó có thể giảm hoặc thay thế một phần nhu cầu đầu tư vào các nguồn điện chạy đỉnh truyền thống. Đặc biệt, BESS cũng có thể hỗ trợ cung cấp điện, giảm nguy cơ quá tải trong các giai đoạn cao điểm…
Để đáp ứng nhu cầu phụ tải đỉnh, đảm bảo khả năng cung ứng điện trong năm 2026 và các năm tiếp theo, EVN đã giao các tổng công ty, đơn vị chủ động triển khai các thủ tục để đầu tư lắp đặt pin lưu trữ trên lưới điện.
Thông tin tại cuộc họp về tình hình triển khai BESS rên lưới điện mới đây, Chủ tịch HĐTV Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC) Đỗ Nguyệt Ánh cho biết, Tổng công ty đã chỉ đạo các đơn vị rà soát, khảo sát các trạm biến áp 110kV có khả năng triển khai hệ thống lưu trữ năng lượng. Kết quả tính toán ban đầu cho thấy, tổng công suất BESS có thể lắp đặt tại các đơn vị thuộc EVNNPC đạt khoảng 530 MW, với thời gian lưu trữ 2 giờ, tương đương 1.060 MWh.
Trong giai đoạn 1, EVNNPC triển khai các bước đầu tư BESS với tổng công suất 305 MW, dự kiến hoàn thành vào cuối tháng 6 năm nay.
Tổng công ty Điện lực TP.Hà Nội (EVNHANOI) được giao phát triển BESS với tổng công suất 275 MW. Trong giai đoạn thí điểm, đơn vị này cho biết đang triển khai BESS với tổng công suất 50 MW tại 5 trạm biến áp trên địa bàn thành phố.
Tại khu vực miền Nam, ông Nguyễn Phước Đức – Tổng giám đốc Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC) thông tin, Tổng công ty đang xúc tiến làm việc với các doanh nghiệp liên quan để nghiên cứu, xem xét triển khai BESS tại đảo Phú Quý. Còn Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia cũng đang thúc đẩy triển khai, dự kiến đến tháng 1.2027 sẽ hoàn tất lắp đặt 100 MW BESS đầu tiên tại các trạm biến áp.
Ban Quản lý dự án Điện 1 được EVN giao nhiệm vụ nghiên cứu khả năng đầu tư BESS với tổng quy mô dự kiến từ 300-500 MW. Khảo sát của đơn vị này cho thấy, có 4 vị trí tiềm năng gắn với khu vực một số nguồn điện tại miền Bắc để xem xét triển khai trong các giai đoạn tiếp theo.
Theo Quy hoạch điện 8 điều chỉnh, pin lưu trữ năng lượng đến năm 2030 đạt từ 10.000 – 16.300 MW.
Lãnh đạo EVN nhấn mạnh, BESS được xác định là một trong những giải pháp quan trọng trong quá trình vận hành và phát triển hệ thống điện. Một trong những ưu điểm nổi bật của BESS là thời gian triển khai lắp đặt nhanh. Mặc dù chi phí đầu tư hiện vẫn ở mức tương đối cao, song khi đặt trong tương quan tổng thể với các nguồn điện truyền thống, BESS không hẳn kém lợi thế, đặc biệt nếu xét đến các giá trị về tính linh hoạt và hiệu quả vận hành hệ thống.
Chủ tịch HĐTV EVN Đặng Hoàng An yêu cầu các đơn vị xây dựng lộ trình phát triển BESS một cách bài bản, đồng bộ, bảo đảm hiệu quả đầu tư. Đặc biệt, tại khu vực miền Bắc, các đơn vị cần ưu tiên đẩy nhanh triển khai hệ thống pin lưu trữ năng lượng.
Cập nhật thời tiết ngày 7.4, Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia cho biết: Kỷ lục nhiệt độ cao nhất trong ngày hôm nay ghi nhận tại Tây Hiếu (Nghệ An) 41,9 độ C. Bên cạnh đó, có 11 trạm quan trắc khác ghi nhận mức nhiệt cao nhất ngày vượt ngưỡng 40 độ C, tập trung ở các tỉnh Sơn La, Phú Thọ, Nghệ An và Hà Tĩnh.
Cụ thể, khu vực tây Bắc bộ nắng nóng gay gắt, có nơi đặc biệt gay gắt với nhiệt độ cao nhất phổ biến tại Phù Yên (Sơn La) 40,2 độ C, Mai Châu (Phú Thọ) 40,2 độ C; độ ẩm tương đối thấp nhất phổ biến 35 - 40%.
Khu vực từ Thanh Hóa đến Đà Nẵng và phía đông tỉnh Quảng Ngãi có nắng nóng gay gắt và đặc biệt gay gắt với nhiệt độ phổ biến 38 - 40 độ C, có nơi trên 40 độ C như: Tĩnh Gia (Thanh Hóa) 40,3 độ C, Hà Tĩnh 40,8 độ C; độ ẩm tương đối thấp nhất phổ biến 35 - 40%.
Khu vực đông Bắc bộ, khu vực Tây nguyên và Nam bộ có nắng nóng, có nơi nắng nóng gay gắt với nhiệt độ phổ biến 35 - 37 độ C, có nơi trên 37 độ C; độ ẩm tương đối thấp nhất phổ biến 40 - 45%.
Cảnh báo, nắng nóng ở các khu vực trên còn có khả năng kéo dài trong nhiều ngày tới. Đặc biệt khu vực từ Thanh Hóa đến Đà Nẵng và phía đông các tỉnh từ Quảng Ngãi đến Đắk Lắk có nắng nóng gay gắt, có nơi đặc biệt gay gắt với nhiệt độ cao nhất phổ biến 37 - 39 độ C, có nơi trên 40 độ C.
Phía tây Bắc bộ có nắng nóng và nắng nóng gay gắt với nhiệt độ cao nhất phổ biến 36 - 38 độ C, có nơi trên 38 độ C. Khu vực Tây nguyên và Nam bộ có nắng nóng với nhiệt độ cao nhất phổ biến 36 - 37 độ C, có nơi trên 37 độ C.
Sản lượng bán hàng các sản phẩm thép xây dựng, thép cuộn chất lượng cao, thép cuộn cán nóng và phôi thép của Hòa Phát cũng đạt 3 triệu tấn, tăng 26% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, thép xây dựng, thép cuộn chất lượng cao ghi nhận 1,4 triệu tấn, tăng 20% so với cùng kỳ 2025 và tăng 8% so với quý cuối năm trước. Thép Hòa Phát duy trì thị phần số 1 Việt Nam với 36% và có mặt tại hơn 45 quốc gia, vùng lãnh thổ khắp năm châu lục trên thế giới.
Thép Hòa Phát được sử dụng rộng rãi trong các công trình trọng điểm, tiêu biểu như dự án mở rộng sân bay Tân Sơn Nhất, sân bay Phú Quốc, đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội, cao tốc Bắc - Nam, cao tốc Long Thành - Dầu Giây, cầu Mỹ Thuận 2, cầu đi bộ qua sông Sài Gòn, các dự án cầu mới qua sông Hồng (cầu Trần Hưng Đạo, Ngọc Hồi)...
Đối với thép cuộn cán nóng (HRC), sản lượng bán hàng đạt hơn 1,4 triệu tấn, tăng 48% so với quý đầu năm 2025. Hiện tại, sản lượng tiêu thụ HRC ở thị trường trong nước chiếm gần 80%, còn lại là xuất khẩu. Hòa Phát đã xuất khẩu HRC đến 20 quốc gia, vùng lãnh thổ tại châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Phi.
Hòa Phát còn sản xuất và cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu nhiều loại sản phẩm chế biến sau thép như ống thép, tôn mạ, thép dự ứng lực các loại. Trong quý đầu năm, tập đoàn cung cấp 241.000 tấn ống thép, 106.000 tấn tôn mạ, tăng tương ứng 30% và 19% so với quý đầu năm 2025. Thép dự ứng lực, thép rút dây các loại đạt hơn 62.000 tấn, tăng 63% so với cùng kỳ năm trước.
Tập đoàn Hòa Phát hiện là nhà sản xuất thép lớn nhất Đông Nam Á với công suất 16 triệu tấn thép thô từ cuối năm 2026. Trong đó, trên 60% sản lượng là các loại thép chất lượng cao, phục vụ các ngành công nghiệp cơ khí chế tạo, sản xuất ô tô, đóng tàu, dầu khí, đồ gia dụng, kết cấu thép, năng lượng. Hiện tại, Hòa Phát là doanh nghiệp Việt Nam duy nhất đầu tư sản xuất được thép cuộn cán nóng HRC.
Hòa Phát đang quyết liệt triển khai dự án Nhà máy sản xuất thép ray và thép đặc biệt tại KKT Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi. Sau 3 tháng từ ngày khởi công, Nhà máy đã hoàn thành 35% tiến độ xây dựng, dự kiến bắt ra sản phẩm thép ray vào năm 2027, phục vụ các dự án đường sắt trọng điểm của Việt Nam và xuất khẩu ra thị trường quốc tế.
VIB sẽ chia trả cổ tức với tổng tỷ lệ gần 18,75% trong năm 2026. Cụ thể, VIB dự kiến trả cổ tức 9% bằng tiền mặt (tương đương gần 3.064 tỉ đồng), phát hành tỷ lệ 9,5% cổ phiếu thưởng cho cổ đông hiện hữu và 0,24% cổ phiếu theo chương trình ESOP. Về phương án tăng vốn điều lệ, VIB dự kiến phát hành thêm hơn 323 triệu cổ phiếu, tương đương tỷ lệ 9,5% cho cổ đông hiện hữu và phát hành 8 triệu cổ phiếu ESOP, tỷ lệ 0,24% cho người lao động. Nguồn sử dụng để tăng vốn điều lệ gồm lợi nhuận sau thuế chưa phân phối lũy kế và quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ căn cứ trên báo cáo tài chính năm 2025 đã được kiểm toán. Sau phát hành, vốn điều lệ của VIB sẽ tăng từ 34.040 tỉ đồng lên gần 37.354 tỉ đồng.
Ngoài lợi nhuận trước thuế năm 2025 đạt 9.105 tỉ đồng, tăng 1% so với năm 2024, ROE đạt 16,5%. Ông Đặng Khắc Vỹ - Chủ tịch HĐQT VIB thông tin trước đại hội về tổng tài sản VIB năm 2025 đạt 556.000 tỉ đồng, tăng 13% so với năm 2024, lần đầu tiên trong lịch sử VIB vượt mốc nửa triệu tỉ đồng. Dư nợ tín dụng đạt 382.000 tỉ đồng, tăng 18%. Tiền gửi khách hàng và giấy tờ có giá đạt 330.000 tỉ đồng, tăng 10%. Tỷ lệ nợ xấu giảm còn 2,2%, giảm 20 điểm cơ bản so với mức 2,4% năm 2024. Đây là mức thấp nhất trong giai đoạn 2023 - 2025. Hơn 90% danh mục tín dụng bán lẻ là các khoản vay có tài sản bảo đảm. Tỷ lệ an toàn vốn theo Basel III, VIB đã hoàn tất Basel III theo phương pháp tiêu chuẩn trước lộ trình ngành, hệ số CAR đạt 12,2% cho thấy bảng cân đối của chúng ta vừa có khả năng chịu đựng áp lực, vừa hỗ trợ tăng trưởng.
Khối ngân hàng bán lẻ vẫn là động cơ tăng trưởng chính và lợi thế cạnh tranh. Dư nợ bán lẻ đạt gần 273.000 tỉ đồng, chiếm 70% tổng dư nợ, thuộc nhóm tỷ trọng bán lẻ cao nhất trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Năm 2025, VIB chính thức gia nhập "câu lạc bộ triệu thẻ" với hơn 1,1 triệu thẻ lưu hành, tăng 29%. Tổng chi tiêu qua thẻ lần đầu tiên vượt 5 tỉ USD, tăng 19%. Đây là mức chi tiêu thực tế, phản ánh tần suất sử dụng cao, không phải chỉ sở hữu thẻ rồi để trong ví. Thu nhập phí từ thẻ và dịch vụ bán lẻ vượt 2.000 tỉ đồng, tăng 21%. VIB cải thiện cơ cấu doanh thu, tổng thu nhập ngoài lãi vượt 3.500 tỉ đồng, chiếm 24% tổng thu nhập hoạt động. 97% tổng giao dịch của khách hàng cá nhân hiện được thực hiện qua kênh số. Giao dịch số đạt gần 680 triệu giao dịch, tăng 30% so với cùng kỳ. Tổng giá trị giao dịch số đạt 4,6 triệu tỉ đồng, tăng 26%. Đối với khối khách hàng doanh nghiệp, dư nợ tín dụng doanh nghiệp tăng 58% so với cùng kỳ. Thu nhập phí tăng 280%. Tiền gửi không kỳ hạn (CASA) của khối doanh nghiệp tăng 20%.
Ông Đặng Khắc Vỹ cho biết: "Năm 2026 là năm chuyển tiếp, khép lại VIB 2.0 và là bệ phóng cho VIB 3.0 (2027 - 2036) kể từ ngày 1.1.2027. Trong đó, định hướng VIB trở thành ngân hàng bán lẻ, không chỉ là ngân hàng vay tiền, mà là ngân hàng giao dịch, tiết kiệm, đầu tư và bảo vệ tài chính xuyên suốt vòng đời của mỗi người. VIB sẽ tiếp tục đà tăng trưởng một cách chọn lọc đối với mảng ngân hàng doanh nghiệp, không chạy theo tăng trưởng tín dụng doanh nghiệp đơn thuần. VIB đưa ra kế hoạch năm 2026 tổng tài sản tăng 15%, lên 637.826 tỉ đồng; dư nợ tín tăng 15%, lên 439.279 tỉ đồng; huy động tăng 26%, lên 415.968 tỉ đồng. Vốn chủ sở hữu của ngân hàng cũng tăng 18%, lên 55.369 tỉ đồng, lợi nhuận trước thuế tăng 27%, lên 11.550 tỉ đồng và tỷ lệ nợ xấu dưới 3%".