Mục Lục
ToggleChiều 7.4, UBND thành phố Đà Nẵng tổ chức họp báo quý 1 năm 2026, thông tin về tình hình kinh tế – xã hội trên địa bàn. Tại đây, nhiều vấn đề “nóng” liên quan đến các dự án ven sông Hàn đã được nêu ra, đặc biệt là lo ngại về tình trạng cao ốc bủa vây che chắn tầm nhìn sông Hàn.
Trả lời nội dung này, ông Võ Tấn Hà, Phó giám đốc Sở Xây dựng thành phố Đà Nẵng, cho biết việc bố trí công trình cao tầng ven sông không chỉ dựa vào chiều cao, mà phải đánh giá tổng hợp nhiều tiêu chí.
Theo đó, các dự án phải đảm bảo tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan toàn tuyến, kết nối giao thông hợp lý, tránh ùn tắc cục bộ; đồng thời, tạo điểm nhấn đô thị phù hợp và hài hòa giữa không gian công cộng, cây xanh, mặt nước với các khu chức năng thương mại, dịch vụ, nhà ở.
Quan trọng là phải kiểm soát hợp lý tầng cao, mật độ xây dựng, hệ số sử dụng đất và khoảng lùi công trình, đảm bảo không che chắn không gian công cộng ven sông, không ảnh hưởng tiêu cực đến cảnh quan đô thị.
Cũng theo lãnh đạo Sở Xây dựng, mỗi đô thị có đặc thù riêng về điều kiện tự nhiên, cấu trúc không gian, mật độ dân cư và mục tiêu phát triển. Vì vậy, việc phát triển không gian ven sông Hàn được nghiên cứu theo từng khu vực, từng đoạn tuyến, từng ô phố, thay vì áp dụng một mô hình cứng nhắc.
Ông Võ Tấn Hà cũng cho hay, trong định hướng quy hoạch chuyên ngành giao thông đô thị thành phố Đà Nẵng đến năm 2023, tầm nhìn đến năm 2045 đã có các tuyến đường sắt đô thị nhằm tăng cường khả năng lưu thông kết nối, góp phần giảm tải áp lực lên hạ tầng đô thị.
Sở Xây dựng cũng đã có báo cáo và UBND thành phố đã thống nhất chủ trương nghiên cứu mở rộng các trục đường ven biển.
Một nội dung khác thu hút sự chú ý là dự án nhà hàng, bến du thuyền phía nam cảng sông Hàn hiện đang bị bỏ hoang, gây ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị.
Trả lời nội dung này, ông Võ Tấn Hà cho biết đây là dự án được dư luận quan tâm, ảnh hưởng cảnh quan, không gian công cộng phía tây sông Hàn.
Do vậy, Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng đã có Thông báo số 331 giao Ban Cán sự Đảng UBND thành phố làm việc với chủ đầu tư để vận động thu hồi dự án. Trên cơ sở đó, thành phố sẽ nghiên cứu các phương án xử lý như chuyển đổi công năng gắn với hoạt động của thành Điện Hải, phục vụ mục đích công cộng, bố trí làm trung tâm thông tin du lịch hoặc thậm chí phá dỡ để tạo không gian thông thoáng ven sông.
Hiện Sở Xây dựng Đà Nẵng đang phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức hội thảo, tham mưu UBND thành phố báo cáo Ban Thường vụ Thành ủy để thống nhất chủ trương chuyển đổi công trình này sang phục vụ cộng đồng.
Thành lập thành phố Đồng Nai là cấp thiết: Xác định 2 khu vực động lực phát triển

Trả lời PV Thanh Niên, Phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh Đồng Nai Nguyễn Kim Long cho biết trong thời gian qua Đồng Nai đã chú trọng triển khai công tác quy hoạch một cách bài bản, đồng bộ, với quan điểm xuyên suốt là phát triển bền vững, sử dụng hiệu quả các nguồn lực và nâng cao chất lượng sống của người dân.
Mới đây, ngày 27.2, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai đã ban hành Quyết định số 779 về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch tỉnh Đồng Nai thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Việc điều chỉnh quy hoạch được thực hiện trên nguyên tắc phù hợp, đồng bộ với định hướng, tầm nhìn phát triển đất nước, chủ trương, đường lối của Đảng, quy hoạch cấp quốc gia và quy hoạch vùng Đông Nam bộ.
"Đây là cơ sở quan trọng bảo đảm tính thống nhất, tránh chồng chéo, lãng phí trong đầu tư phát triển", ông Nguyễn Kim Long khẳng định.
Theo lãnh đạo UBND tỉnh Đồng Nai, tỉnh xác định rõ phương án phát triển tỉnh Đồng Nai theo 5 vùng KT-XH, 4 không gian, 6 hành lang và 3 vành đai, qua đó tổ chức lại toàn bộ cấu trúc phát triển theo hướng khoa học, đồng bộ và có tính liên kết cao.
Quy hoạch cũng đã xác định rõ phương án phát triển các khu chức năng và các khu có vai trò động lực của tỉnh trong thời gian tới, trong đó không thể không kể đến 2 khu vực làm động lực phát triển mới là khu vực đô thị sân bay Long Thành và khu vực hành lang sông Đồng Nai.
Phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh Đồng Nai cho biết thêm hiện tỉnh khẩn trương hoàn thành các bước cuối cùng để phê duyệt 4 đồ án quy hoạch chung đô thị Biên Hòa, Long Thành, Nhơn Trạch, Trảng Bom; đồng thời triển khai lập quy hoạch chi tiết đối với toàn bộ 95 xã, phường trên địa bàn tỉnh theo đơn vị hành chính mới. Đây là bước đi rất quan trọng nhằm cụ thể hóa quy hoạch tỉnh vào từng không gian phát triển cụ thể, bảo đảm tính đồng bộ từ cấp tỉnh đến cơ sở.
Về tầm nhìn dài hạn, Đồng Nai xác định mục tiêu phát triển không chỉ dừng lại ở một địa phương công nghiệp mà hướng tới trở thành đô thị hiện đại, có năng lực điều phối không gian phát triển, liên kết hạ tầng, phân bổ nguồn lực và dẫn dắt tăng trưởng cho toàn khu vực. Đây không đơn thuần là sự thay đổi về đơn vị hành chính mà là bước chuyển quan trọng về mô hình phát triển và mô hình quản trị.
Tầm nhìn đến năm 2050, Đồng Nai đi đầu trong phát triển công nghiệp công nghệ cao, có hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, thông minh, hiện đại; là trung tâm giao thương quốc tế, du lịch, dịch vụ gắn với các đô thị đẳng cấp quốc tế, nơi tập trung trí thức và nhân tài, lấy kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn là trọng tâm góp phần hoàn thành mục tiêu phát thải ròng bằng 0. Phát triển hài hòa, người dân có cuộc sống phồn vinh, hạnh phúc, không ai bị bỏ lại phía sau. Quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm vững chắc.
Trên nền tảng đó, Đồng Nai định hướng phát triển theo mô hình thành phố công nghiệp, đô thị hiện đại, trung tâm logistics và nông nghiệp công nghệ cao, gắn kết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường, đẩy mạnh ứng dụng KH-CN và chuyển đổi số trong quản trị đô thị, nâng cao chất lượng sống của người dân và từng bước xây dựng một đô thị năng động, có sức cạnh tranh cao trong khu vực.
Qua đó hình thành một cực tăng trưởng mới của khu vực phía nam, có khả năng lan tỏa mạnh mẽ, thúc đẩy liên kết vùng, nâng cao hiệu quả khai thác hệ thống hạ tầng chiến lược và đóng góp quan trọng vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế quốc gia.
Ông Nguyễn Kim Long đánh giá: "Với vị trí địa kinh tế chiến lược và hệ thống hạ tầng ngày càng hoàn thiện, Đồng Nai có điều kiện trở thành cửa ngõ giao thương quốc tế quan trọng của VN, trung tâm kết nối các hành lang kinh tế và chuỗi cung ứng khu vực, đồng thời là cực tăng trưởng có sức cạnh tranh trong khu vực Đông Nam Á".
Theo GS-TS Võ Xuân Vinh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh doanh (ĐH Kinh tế TP.HCM), một mô hình hạ tầng cốt lõi để phát triển kinh tế bao gồm 5 thành tố: hạ tầng giao thông; hạ tầng năng lượng; hạ tầng viễn thông và công nghệ thông tin; hạ tầng cấp, thoát nước và các công trình thủy lợi; hạ tầng xử lý chất thải. Việc đầu tư vào hạ tầng nào cũng đòi hỏi nhiều nỗ lực, nhưng quan trọng nhất là nguồn lực vật chất, trong khi ngân sách thì lại có hạn.
Vì vậy, GS-TS Võ Xuân Vinh cho rằng việc xác định các xu hướng phát triển nào cho mỗi thành tố là rất quan trọng, phải làm sáng tỏ các xu hướng nào cần được phát triển cho từng thành tố của cơ sở hạ tầng cốt lõi, từ đó lựa chọn các xu hướng để tiến hành đo lường và đề xuất giải pháp phát triển.
Đối với Đồng Nai, sắp tới khi sân bay Long Thành đi vào hoạt động, sức hút vùng phụ cận sân bay là rất lớn, kéo theo sự đòi hỏi cao hơn về cơ sở hạ tầng kinh tế. "Hiện nay về hạ tầng giao thông, Đồng Nai có gần như đầy đủ từ đường bộ, đường cao tốc, đường sắt, đường thủy, sân bay. Điều quan trọng là phải làm sao kết nối các loại hình, các dự án hiện nay để tối ưu hóa hiệu quả", GS-TS Võ Xuân Vinh nêu vấn đề.
Cũng theo GS-TS Võ Xuân Vinh, phát triển kinh tế và các thành tố của hạ tầng kinh tế là để phục vụ người dân, doanh nghiệp. Vì vậy có thể nghĩ đến việc huy động nguồn lực từ người dân, doanh nghiệp và mọi tầng lớp trong xã hội để hướng tới mục tiêu chung.
Đồng Nai là địa phương có vị trí chiến lược, lợi thế về nhiều mặt, đặc biệt có sân bay quốc tế Long Thành và cộng đồng doanh nghiệp lớn xung quanh. Đồng Nai có cơ hội để tạo ra sự bứt phá, vươn mình, nhưng phải làm sao phát huy được các nguồn lực đó vào sự phát triển, đồng thời phát triển có chọn lọc và hướng đến tính bền vững.
Còn ông Võ Văn Một, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai, thì đánh giá giao thông là huyết mạch của nền kinh tế. Thời gian qua T.Ư và Đồng Nai đều triển khai nhiều dự án giao thông lớn, trọng điểm đi qua địa bàn tỉnh. So với thời kỳ ông làm Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai thì khu vực Long Thành đã khác rất nhiều.
Ông cho biết: "Hôm rồi, tôi có dịp vào sân bay Long Thành, phải nói là sân bay hiện đại, hoành tráng, bản thân vui mừng khi tỉnh nhà có một công trình trọng điểm quốc gia, quy mô lớn như vậy".
Ông Một cho biết thêm, năm 1991, khi còn làm ở Ủy ban Kế hoạch tỉnh, ông được tháp tùng lãnh đạo tỉnh đi TP.HCM họp về quy hoạch vùng Đông Nam bộ, vùng kinh tế trọng điểm phía nam. Lúc đó, các tỉnh đã bàn về việc xây dựng sân bay Long Thành và chính ông đã giới thiệu khu vực Long Thành vì nơi đây có vị trí thuận lợi; thời tiết, khí hậu ổn định; tập trung nhiều đất công dễ cho việc giải phóng mặt bằng.
Theo ông Võ Văn Một, bây giờ sân bay hình thành rồi, các hạ tầng giao thông cũng đã và đang được đầu tư để kết nối đồng bộ. Đồng Nai cũng quy hoạch các vùng phụ cận xung quanh sân bay để khai thác tiềm năng, lợi thế sẵn có.
Tuy nhiên quan trọng nhất vẫn là yếu tố con người, vì vậy ông cho rằng cần quan tâm vấn đề đào tạo nguồn nhân lực để đáp ứng được yêu cầu trong thời đại mới. Và quan trọng trên hết, xuyên suốt và ưu tiên số một là an sinh xã hội, làm sao để mọi người dân được hưởng lợi, cuộc sống ấm no.
Chuyên gia: 'Luật đô thị đặc biệt cần cho TP HCM nhưng quan trọng là cách làm'

"Ngay cả khi được trao quyền rộng, thành phố vẫn khó tạo bứt phá nếu không khơi lại tinh thần dám nghĩ, dám làm", TS Huỳnh Thế Du, Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright, nói tại hội thảo tham vấn về dự thảo Luật Đô thị đặc biệt cho TP HCM do UBND TP HCM phối hợp với Đại học Quốc gia TP HCM tổ chức, ngày 4/4.
Theo ông Du, khoảng một thập niên qua TP HCM không thiếu cơ chế đặc thù, song các chính sách chưa tạo động lực tăng trưởng rõ rệt, thậm chí vai trò, đóng góp của thành phố có xu hướng giảm.
Dẫn số liệu, ông cho biết năm 2001, vùng Đông Nam Bộ chiếm 37,6% GDP cả nước, hiện còn 31,1%; trong khi vùng Đồng bằng sông Hồng từ khoảng 25% đã vươn lên dẫn đầu. Cách đây 20-25 năm, khu vực TP HCM (gồm Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương cũ) đóng góp khoảng 50% thu ngân sách, nay còn khoảng một phần ba.
Diễn biến này cũng thể hiện qua các giai đoạn áp dụng cơ chế đặc thù. Khi ban hành Nghị quyết 54 năm 2017, vùng TP HCM chiếm khoảng 27% GDP cả nước; sau 5-6 năm triển khai, tỷ trọng giảm còn 24,5% và đến năm 2020 còn 23,1%.
Liên hệ giai đoạn đầu Đổi mới, TS Huỳnh Thế Du cho rằng TP HCM từng tăng trưởng mạnh nhờ cách làm linh hoạt, "phá rào" trước những ràng buộc chưa phù hợp. "Luật Đô thị đặc biệt hay việc nới khung thể chế chỉ là điều kiện cần, vấn đề là cách làm và vận hành thực tế của bộ máy", ông nói.
Theo chuyên gia này, điểm mấu chốt nằm ở "thể chế phi chính thức" - cách hệ thống thực sự vận hành, từ phối hợp giữa các cơ quan, xử lý công việc đến tinh thần dám làm và mức độ linh hoạt trong thực thi - có thể chiếm tới 80% động lực đổi mới.
TS Du lưu ý nếu chỉ hoàn thiện quy định trên giấy mà không thay đổi cách vận hành, hiệu quả sẽ hạn chế. Vì vậy, cùng với xây dựng luật, TP HCM cần khơi lại tinh thần chủ động, dám nghĩ, dám làm trong đội ngũ thực thi.
"Giả định TP HCM có quyền như Singapore, tôi vẫn lo ngại nếu cách làm không thay đổi", ông nói, dẫn lại việc thành phố đã trải qua nhiều cơ chế như Nghị quyết 54, 98 nhưng chưa tạo được bứt phá rõ rệt.
Đồng quan điểm, TS Huỳnh Thanh Điền, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, cho rằng để luật phát huy hiệu quả cần hướng tới mục tiêu: thành phố phải "được làm, làm được và dám làm", đồng thời triển khai nhanh, sáng tạo và hiệu quả.
Theo ông, dự thảo luật cần thiết kế cơ chế để TP HCM chủ động triển khai các nhiệm vụ cụ thể, kể cả ban hành quy định với những nội dung pháp luật hiện hành chưa đề cập. Tuy nhiên, quyền hạn phải đi kèm năng lực thực thi và trách nhiệm, do đó cần cơ chế bảo vệ cán bộ, nhất là người trực tiếp ra quyết định.
TS Điền nhấn mạnh điểm nghẽn hiện nay nằm ở khâu tổ chức thực hiện, khi chủ trương, định hướng cơ bản đã rõ. Vì vậy, dự thảo cần bổ sung các công cụ hỗ trợ như quy hoạch, kiến tạo không gian phát triển, liên kết vùng, đồng thời cho phép thành phố chủ động với các lĩnh vực mới.
Về tài chính, ông đề xuất tăng quyền tự chủ tài khóa, cho phép TP HCM chủ động thu - chi, áp dụng một số khoản thu đặc thù và sử dụng các công cụ huy động vốn như trái phiếu, quỹ hạ tầng.
Ngoài ra, cần đột phá trong hợp tác công tư, mở rộng sang hạ tầng số, không gian ngầm và các lĩnh vực mới, cùng cơ chế tài chính cho đổi mới sáng tạo. Thành phố cũng cần chủ động hơn về tổ chức bộ máy, chính sách tiền lương để thu hút nhân lực chất lượng cao.
Bộ Chính trị đã đồng ý cho TP HCM xây dựng Luật Đô thị đặc biệt, tương tự Luật Thủ đô. Thành phố dự kiến hoàn tất dự thảo trong tháng 4, sau đó tổ chức các hội thảo, lấy ý kiến từ tháng 5 đến tháng 6 trước khi trình Quốc hội khóa XVI xem xét vào cuối năm 2026.
Theo Phó chủ tịch UBND TP HCM Nguyễn Mạnh Cường, thành phố không chỉ dừng ở bổ sung cơ chế đặc thù mà hướng tới luật hóa các chính sách ở mức cao nhất, đủ sức giải phóng nguồn lực và tạo động lực tăng trưởng mới.
TP HCM xác định ba nguyên tắc khi xây dựng luật. Thứ nhất, trao quyền tự chủ toàn diện theo phương châm "địa phương quyết - địa phương làm - địa phương chịu trách nhiệm". Thứ hai, luật hóa các vấn đề thực tiễn chưa có hành lang pháp lý như quản lý không gian ngầm, tài sản công, đường sắt đô thị, phát triển trung tâm tài chính, thu hút nhân tài. Thứ ba, thể chế hóa các cơ chế đặc thù, biến lợi thế riêng của thành phố thành quy định pháp luật để phát huy hiệu quả.
Lê Tuyết
Thủ tướng: Đẩy mạnh cải cách, tạo đột phá để đạt tăng trưởng hai con số

Trong bài Tăng tốc bứt phá, quyết tâm thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 14 của Đảng, người đứng đầu Chính phủ nêu rõ tăng trưởng hai con số là yêu cầu khách quan từ đòi hỏi phát triển đất nước và khát vọng vươn lên của dân tộc, đồng thời là mục tiêu chiến lược phải thực hiện cho bằng được. Tăng trưởng cao phải gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn và phát triển nhanh, bền vững.
Nhìn lại nhiệm kỳ 2021-2025, Thủ tướng cho biết trong bối cảnh khó khăn, thách thức nhiều hơn thuận lợi, đất nước đã vượt qua "giông bão", kiểm soát hiệu quả đại dịch Covid-19, phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, duy trì tăng trưởng thuộc nhóm cao trong khu vực và thế giới. Nền kinh tế giữ vững ổn định vĩ mô, nợ công, bội chi trong giới hạn cho phép; các đột phá chiến lược được triển khai, mở ra không gian phát triển mới theo hướng "thể chế thông thoáng, hạ tầng thông suốt, quản trị thông minh".
Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số được thúc đẩy mạnh mẽ; nhiều tồn đọng kéo dài được xử lý, góp phần giải phóng nguồn lực. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có bước tiến; an sinh xã hội được bảo đảm với tinh thần không để ai bị bỏ lại phía sau; tỷ lệ hộ nghèo giảm còn khoảng 1,3%. Quốc phòng, an ninh được củng cố; đối ngoại và hội nhập quốc tế là điểm sáng, góp phần nâng cao vị thế, uy tín đất nước.
Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, Thủ tướng đúc kết 5 bài học kinh nghiệm có ý nghĩa định hướng cho giai đoạn tới. Bài học đầu tiên là phải kiên định sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, đồng thời triển khai chủ trương, chính sách chủ động, linh hoạt, sáng tạo, nắm chắc tình hình, phản ứng chính sách kịp thời, hiệu quả, nhất là với những vấn đề mới, khó, chưa có tiền lệ.
Cùng với đó là yêu cầu không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đoàn kết quốc tế, đi cùng quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt. Người dân được xác định là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu, đồng thời là nguồn lực và động lực quan trọng nhất của phát triển, từ đó tạo dựng và củng cố niềm tin xã hội.
Một bài học xuyên suốt khác là phải kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, trong đó nội lực là cơ bản, chiến lược, lâu dài, mang tính quyết định; ngoại lực là quan trọng, cần thiết và có thể tạo đột phá. Tư duy phát triển phải nhìn xa, trông rộng, nghĩ sâu, làm lớn, coi trọng thời gian, trí tuệ và sự quyết đoán đúng thời điểm.
Cùng với đó, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền phải đi đôi với phân bổ nguồn lực, nâng cao năng lực thực thi, tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực; phân công nhiệm vụ theo tinh thần "6 rõ": rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả.
Bước vào nhiệm kỳ 2026-2030, bối cảnh thế giới được dự báo tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược gia tăng; chuỗi cung ứng, thương mại, đầu tư toàn cầu biến động mạnh; các yếu tố an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, dịch bệnh tiếp tục tác động sâu rộng. Trong nước, nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi, quy mô còn khiêm tốn, độ mở cao, năng lực cạnh tranh và khả năng chống chịu cần tiếp tục được củng cố.
Trong bối cảnh đó, Thủ tướng yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy bị động sang chủ động thích ứng, "biến nguy thành cơ", "xoay chuyển tình thế, chuyển đổi trạng thái", kiểm soát rủi ro hiệu quả thành lợi thế cạnh tranh. Các bộ, ngành, địa phương phải khẩn trương cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội 14 thành chương trình hành động, kế hoạch thực hiện với mục tiêu, lộ trình, giải pháp rõ ràng, có thể "cân đong, đo đếm, lượng hóa được", gắn trách nhiệm người đứng đầu, khắc phục bệnh hình thức, bệnh thành tích.
Tại Hội nghị Trung ương 2 khóa 14, Tổng Bí thư Tô Lâm đã khái quát 5 nội dung công việc quan trọng của nhiệm kỳ, gồm: công tác chính trị, tư tưởng với "4 kiên định"; mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số; phát huy hiệu quả mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; và bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, hội nhập quốc tế. Trong đó, tăng trưởng hai con số được xác định là yêu cầu khách quan, gắn với khát vọng phát triển đất nước.
Để đạt mục tiêu này, Thủ tướng nhấn mạnh phải khơi thông, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, phát huy tối đa nội lực, đồng thời tận dụng hiệu quả ngoại lực; vừa làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống như đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu, vừa thúc đẩy mạnh mẽ các động lực mới, trong đó khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh giữ vai trò nền tảng.
Giải pháp được đặt ra theo hướng đồng bộ, có trọng tâm. Về điều hành vĩ mô, các cơ quan tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, phối hợp chặt chẽ với chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, vừa giữ ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, vừa hỗ trợ sản xuất kinh doanh. Về đầu tư, đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, lấy đầu tư công dẫn dắt, kích hoạt đầu tư tư nhân, khai thác hiệu quả dư địa nợ công để huy động thêm nguồn lực phát triển.
Đồng thời, thúc đẩy mạnh mẽ thị trường nội địa trở thành bệ đỡ của nền kinh tế; đa dạng hóa thị trường, sản phẩm, chuỗi cung ứng; nâng cao năng lực sản xuất và sức cạnh tranh. Nguyên tắc "lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ" được quán triệt trong hợp tác công tư.
Ba đột phá chiến lược tiếp tục được xác định là hoàn thiện thể chế, phát triển nguồn nhân lực và xây dựng hạ tầng đồng bộ. Trong đó, thể chế là "đột phá của đột phá", phải đi trước, mở đường, xóa bỏ cơ chế "xin cho", tạo môi trường đầu tư kinh doanh minh bạch, thuận lợi. Nguồn nhân lực được nâng cao chất lượng, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo; hạ tầng được phát triển đồng bộ, hiện đại, đặc biệt là giao thông, năng lượng, hạ tầng số.
Cùng với đó, thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo; phát triển các ngành công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, năng lượng tái tạo; hình thành các động lực tăng trưởng mới. Các mô hình kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế dữ liệu tiếp tục được khuyến khích phát triển.
Song song với phát triển kinh tế, yêu cầu bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống người dân, phát triển văn hóa, con người, bảo vệ môi trường được đặt ngang tầm. Các chính sách an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, chăm lo người yếu thế tiếp tục được thực hiện hiệu quả; không hy sinh tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng đơn thuần.
Đặc biệt, Thủ tướng nhấn mạnh phương châm hành động "1 mục tiêu, 2 bảo đảm, 3 có, 4 không, 5 hóa". Trong đó, "1 mục tiêu" là chăm lo để người dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, năm sau tốt hơn năm trước. "2 bảo đảm" là bảo đảm phát triển để ổn định và ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững. "3 có" là có sự tham gia, đóng góp của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân. "4 không" là không lãng phí một ngày, không chậm trễ trong một tuần, không bỏ lỡ cơ hội trong một tháng và không để bị động trong cả năm. "5 hóa" gồm xanh hóa, số hóa, tối ưu hóa tiềm năng, thông minh hóa quản trị và hài hòa hóa lợi ích.
Cùng với đó, yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính phục vụ, minh bạch, chuyển từ quản lý sang quản trị phát triển; cắt giảm thủ tục, chi phí tuân thủ, tạo thuận lợi tối đa cho người dân và doanh nghiệp. Công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được thực hiện quyết liệt, không có vùng cấm, không có ngoại lệ.
Quốc phòng, an ninh tiếp tục được củng cố; đối ngoại và hội nhập quốc tế được đẩy mạnh theo hướng chủ động, tích cực, hiệu quả, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển. Đối ngoại tiếp tục giữ vai trò tiên phong trong nâng cao vị thế đất nước, gắn kết chặt chẽ với quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế.
Theo Thủ tướng, nhiệm vụ phía trước rất nặng nề nhưng cũng rất vinh quang. Với nền tảng tích lũy qua nhiều năm đổi mới, cùng sự đoàn kết, quyết tâm của toàn hệ thống chính trị, người dân và doanh nghiệp, Việt Nam có đủ điều kiện để thực hiện thắng lợi mục tiêu tăng trưởng hai con số, phát triển nhanh và bền vững, hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước hùng cường, thịnh vượng.
>>> Nội dung bài viết của Thủ tướng Phạm Minh Chính




