Ngày 7-4, PGS.TS Tô Văn Phương – Trưởng phòng đào tạo Trường đại học Nha Trang – xác nhận hội đồng thi tại trường đã phát hiện hai trường hợp thí sinh khai không đúng thông tin cá nhân để được dự thi kỳ thi đánh giá năng lực.
Theo đó, trước giờ làm bài sáng 5-4, trong quá trình kiểm tra giấy tờ, giám thị phát hiện sự chênh lệch về năm sinh của hai thí sinh, căn cước công dân của thí sinh này ghi năm 2009, trong khi giấy báo dự thi thể hiện năm 2008.
“Thông thường, học sinh lớp 12 sinh năm 2008. Nếu có trường hợp đặc biệt, Đại học Quốc gia TP.HCM sẽ gửi danh sách riêng về các điểm thi để theo dõi” – ông Phương cho hay.
Ngay sau khi phát hiện sai lệch, hội đồng thi đã mời hai thí sinh ra ngoài trước thời điểm phát đề để làm rõ.
Làm việc với nhà trường, hai thí sinh thừa nhận đã khai gian tuổi với mục đích được tham gia kỳ thi để trải nghiệm và tự đánh giá năng lực học tập.
Theo đại diện Trường đại học Nha Trang, quy chế kỳ thi không cho phép hai trường hợp này dự thi. Tuy nhiên, khi đủ điều kiện theo quy định, hai thí sinh này vẫn có thể đăng ký tham gia các đợt thi sau.
Tin Gốc: https://tuoitre.vn/khai-gian-tuoi-de-du-thi-danh-gia-nang-luc-20260407103353272.htm
Giáo Dục
Xã đầu tiên trong cả nước cung cấp sách giáo khoa miễn phí cho học sinh

Xã Hoà Vang là địa phương đầu tiên trong cả nước cung cấp sách giáo khoa miễn phí cho học sinh toàn xã, hoàn thành sớm 3 năm so với mục tiêu của Bộ Chính trị.
Ông Lê Phú Nguyện - Chủ tịch UBND xã Hòa Vang - cho biết từ ngày 1-7-2025, sau khi thành lập theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, xã Hòa Vang xác định là địa bàn còn nhiều khó khăn nên chủ động xây dựng mô hình "Tủ sách giáo khoa dùng chung" nhằm huy động nguồn lực xã hội hóa, cung cấp SGK miễn phí cho học sinh, giảm gánh nặng chi phí và chống lãng phí.
Giai đoạn đầu, xã huy động 551 triệu đồng mua hơn 6.000 quyển SGK, phục vụ hơn 1.200 học sinh tại 8 thôn vùng đồi núi xã Hòa Phú (cũ), ưu tiên học sinh thuộc diện chính sách, hộ nghèo, cận nghèo, hoàn cảnh khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số; đáp ứng khoảng 31% nhu cầu năm học 2025-2026.
Sau đó, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, đặt mục tiêu cung cấp SGK miễn phí cho học sinh từ năm học 2029-2030.
Cùng với đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định bộ SGK giáo dục phổ thông thống nhất toàn quốc. Đây cũng là bộ sách "Kết nối tri thức" mà xã Hòa Vang đang triển khai, tạo cơ sở thuận lợi cả về chính trị lẫn pháp lý để địa phương tiếp tục mở rộng mô hình.
Trên nền tảng đó, UBND xã Hòa Vang tiếp tục huy động thêm gần 1,5 tỉ đồng, mua 74.676 quyển SGK các loại. Tính đến nay, tổng số SGK được trang bị tại thư viện các trường là 91.060 quyển, đủ phục vụ miễn phí cho gần 7.000 học sinh từ tiểu học đến THCS và THPT tại 6 cơ sở giáo dục trên địa bàn.
Trong đó có 2 đơn vị trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo quản lý là Trường THPT Ông Ích Khiêm và Trung tâm Giáo dục thường xuyên số 3 - cơ sở 2.
Với nguồn sách này, xã Hòa Vang dự kiến đáp ứng 100% nhu cầu SGK của học sinh trên địa bàn từ năm học 2026-2027, trở thành địa phương đầu tiên trong cả nước thực hiện đầy đủ chính sách cung cấp SGK miễn phí, sớm hơn 3 năm so với lộ trình chung.
Ông Trần Anh Tuấn, Phó Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng đánh giá việc triển khai mô hình tại xã Hòa Vang là bước cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị.
"Sau sáp nhập, thành phố Đà Nẵng mở rộng địa bàn với nhiều khu vực từ đồng bằng, trung du, miền núi với nhiều nơi có điều kiện hạ tầng và kinh tế còn hạn chế. Trong bối cảnh đó, mô hình này không chỉ mang ý nghĩa giáo dục mà còn góp phần bảo đảm an sinh xã hội, hỗ trợ các gia đình khó khăn, tạo điều kiện để học sinh yên tâm học tập.
Trong thời gian ngắn, xã đã triển khai hiệu quả, trở thành điểm sáng để thành phố nghiên cứu, nhân rộng trong thời gian tới", ông Anh Tuấn nói.
Em Lê Thị Thanh Thúy, học sinh lớp 7/1, Trường THCS Ông Ích Đường chia sẻ gia đình em có hai chị em đang đi học, ba mẹ làm nông, thuộc đồng bào Cơ Tu, cuộc sống còn nhiều khó khăn. Việc được nhận SGK sớm cho năm học lớp 8 khiến em rất xúc động. "Em thấy yên tâm hơn để chuẩn bị cho năm học mới, ba mẹ cũng đỡ vất vả hơn", Thúy nói.
Giáo Dục
Học sinh TP.HCM chọn môn thi tốt nghiệp THPT 2026: Tiếng Anh và lý chiếm đa số

Hiệu trưởng các trường THPT nhìn nhận việc lựa chọn môn thi tốt nghiệp của học sinh (HS) TP.HCM luôn ngược dòng với các địa phương khác, xuất phát từ đặc thù là đô thị lớn và HS có nền tảng, điều kiện học tập ngoại ngữ từ sớm.
Ông Tô Lâm Viễn Khoa, Hiệu phó Trường THPT Gia Định (P.Thạnh Mỹ Tây, TP.HCM), thông tin: Theo số liệu thăm dò 858 HS lớp 12 chọn môn thi tốt nghiệp THPT năm 2026, có 666 HS chọn môn tiếng Anh, tiếp đến là môn vật lý với 507 HS, hóa học 262, sinh học 122, lịch sử 62, giáo dục kinh tế và pháp luật 58, tin học 22 và địa lý là 15.
Nhận xét về tình hình HS chọn môn thi tốt nghiệp, ông Khoa cho hay tiếng Anh và vật lý vẫn là 2 môn có tỷ lệ HS chọn nhiều nhất, trên 70%. Số HS chọn môn hóa có giảm đi đáng kể, các môn còn lại ổn định. Chỉ có môn địa lý sụt giảm mạnh do có ít sự lựa chọn khi xét tuyển ĐH.
Về nhóm môn lựa chọn, Hiệu phó Trường THPT Gia Định cho hay từ 13 nhóm của năm 2025 tăng lên 15. Trong đó, tổ hợp có môn tiếng Anh - vật lý vẫn là nhóm được chọn áp đảo với hơn 40% số lượng HS, cho thấy ưu thế của tổ hợp A01 (toán - lý - tiếng Anh).
Nhóm môn vật lý - hóa học năm nay giảm mạnh do nhiều ngành ở ĐH đã bỏ xét tuyển tổ hợp A00 (toán - lý - hóa). Các nhóm môn lịch sử - địa lý, lịch sử - giáo dục kinh tế và pháp luật có ít HS chọn. Hầu hết HS chọn 2 nhóm môn này sẽ kết hợp thêm môn tiếng Anh để tăng khả năng xét tuyển vào ĐH.
Tương tự tại Trường THPT Bùi Thị Xuân (P.Bến Thành), có 506/708 HS lớp 12 chọn môn tiếng Anh, 489 HS chọn vật lý, tiếp theo là hóa học và sinh học với lần lượt là 228 và 136 HS.
Về tổ hợp môn, nhóm môn tiếng Anh - vật lý có 416 HS chọn, sau đó là nhóm hóa - sinh có 127 HS, vật lý - hóa học có 70, tiếng Anh - hóa học có 30… Còn nhóm môn lịch sử - địa lý, hóa học - lịch sử, vật lý - lịch sử, vật lý - tin học, vật lý - giáo dục kinh tế và pháp luật, mỗi nhóm có 1 HS chọn. Các tổ hợp lịch sử - công nghệ, lịch sử - giáo dục kinh tế và pháp luật, tin học - địa lý, địa lý - công nghệ nông nghiệp… không có HS đăng ký.
Tại Trường THPT Tân Phong (P.Tân Hưng), theo thống kê có 383/675 HS lớp 12 chọn tiếng Anh, tiếp theo đó là lần lượt các môn vật lý 256 em, địa lý 242 em, giáo dục kinh tế và pháp luật 157 em…
Ông Nguyễn Anh Dũng, Hiệu trưởng Trường THPT Hùng Vương (P.Chợ Lớn), cho biết có 693 trong khoảng 1.000 HS lớp 12 chọn môn thi tiếng Anh, 504 chọn thi môn vật lý, 320 chọn môn hóa học, 149 chọn địa lý, 118 chọn thi môn sinh học, 92 chọn thi môn lịch sử. Ông Dũng cho hay số lượng HS lựa chọn nhóm môn khoa học tự nhiên áp đảo so với khoa học xã hội.
Theo hiệu trưởng Trường THPT Hùng Vương, tổ hợp toán - tiếng Anh - vật lý có 348 HS lựa chọn; toán - vật lý - hóa học có 140 HS lựa chọn.
Còn với Trường THPT Bình Tân (P.Bình Tân), 402/677 HS lớp 12 chọn môn vật lý, 390 HS chọn môn tiếng Anh, môn hóa học và môn lịch sử cùng có 167 HS, giáo dục kinh tế và pháp luật có 98 HS chọn…
Bà Nguyễn Thị Kim Huệ, Hiệu trưởng Trường THPT Bình Tân, cho hay vật lý, tiếng Anh cũng là 2 môn thi HS lớp 12 lựa chọn nhiều nhất.
Ở Trường THPT Nguyễn Tất Thành (P.Bình Phú), có 576/782 HS lớp 12 chọn thi tiếng Anh, 436 HS chọn môn vật lý, 190 HS chọn môn hóa học, 100 HS chọn môn địa lý, 69 HS chọn môn sinh học…
Đồng thời với việc rà soát, nắm bắt tình hình HS đăng ký các môn thi, tổ hợp xét tuyển ĐH, các trường THPT hiện đang triển khai rất nhiều giải pháp nhằm hỗ trợ HS ôn thi trong giai đoạn quan trọng này.
Tại Trường THPT Ngô Quyền (P.Phú Mỹ), nhà trường tổ chức ôn tập cho HS giai đoạn nước rút sau khi hoàn tất củng cố, ôn luyện kiến thức 2 môn bắt buộc toán, ngữ văn. Từ nay đến ngày 29.5, HS chọn ôn tập 3 môn tổ hợp để xét tuyển ĐH, mỗi môn học 2 tiết/tuần.
Ông Nguyễn Hữu Trí, Hiệu trưởng Trường THPT Ngô Quyền, thông tin: Việc ôn tập thi tốt nghiệp THPT cho HS của trường hoàn toàn miễn phí, tổ chức ôn đúng định hướng và bám sát các chỉ đạo về mặt chuyên môn của Sở GD-ĐT TP.HCM cũng như các quy định của Thông tư 29 quy định về việc dạy thêm học thêm.
Tại Trường THPT Hùng Vương, giai đoạn cao điểm của việc ôn tập thi cho HS lớp 12 sẽ kéo dài trong tháng 4 đến hết tháng 5. HS sẽ được ôn tập môn toán, ngữ văn, tiếng Anh và môn nằm trong bài thi tự chọn mà HS đã đăng ký thi tốt nghiệp THPT, xét tuyển vào ĐH với trung bình mỗi môn 2 tiết/tuần.
"Đồng thời, trường còn tổ chức thêm các chuyên đề học tập bổ trợ, nhằm củng cố và nâng cao kiến thức cho HS đăng ký tham gia học tập chuyên đề, tổ chức thêm các lớp phụ đạo hoàn toàn miễn phí cho HS yếu để giúp các em củng cố và nâng cao kiến thức phục vụ cho kỳ thi, đáp ứng mục tiêu xét tuyển. Nhà trường tổ chức các lớp ôn thi căn cứ theo danh sách giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm các lớp 12 đề nghị, dựa trên kết quả học tập, điểm số của HS trong các đợt kiểm tra", ông Nguyễn Anh Dũng, Hiệu trưởng Trường THPT Hùng Vương, cho biết.
Bà Nguyễn Thị Kim Huệ thông tin Trường THPT Bình Tân đã xây dựng kế hoạch tổ chức ôn tập cho HS lớp 12 chia thành 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 bố trí tiết ôn tập trong buổi học chính khóa cho đến khi kết thúc năm học. Song song với việc thực hiện số tiết theo quy định chương trình hiện hành, nhà trường bố trí thêm 4 tiết ôn thi (1 tiết toán, 1 tiết ngữ văn, 1 tiết môn lựa chọn 1 và 1 tiết môn lựa chọn 2). Sau khi kết thúc năm học, cuối tháng 5, nhà trường sẽ tiến hành giai đoạn 2 dự kiến tập trung ôn tập thêm 2 tuần cho HS trước kỳ thi tốt nghiệp THPT. Trong đó, HS sẽ học 6 tiết/tuần với ngữ văn 2 tiết, toán 2 tiết, 1 tiết môn lựa chọn 1 và 1 tiết môn lựa chọn 2. Việc tổ chức cho HS ôn thi tốt nghiệp THPT sẽ được thực hiện từ nguồn ngân sách.
Giáo Dục
Chất lượng giáo dục các địa phương: Môn ngoại ngữ cần thoát khỏi lối mòn điểm số

Đây không chỉ là thay đổi cách thi, mà còn là thay đổi cách nhìn: ngoại ngữ không còn để lấy điểm, mà là năng lực thiết yếu cho giao tiếp, học tập, làm việc và hội nhập.
Trước hết, cần nhìn lại vai trò của ngoại ngữ trong bối cảnh mới. Khi tiếng Anh được định hướng là ngôn ngữ thứ hai trong nhà trường, ngoại ngữ không còn là môn học riêng lẻ mà trở thành công cụ học tập. Học sinh không chỉ học để thi mà dùng ngoại ngữ để tiếp cận tri thức, học liệu và tham gia môi trường học tập toàn cầu.
Đồng thời, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI) đang thay đổi cách sử dụng ngôn ngữ. Dù AI có thể dịch, viết hay hỗ trợ học tập, người học vẫn cần đủ năng lực ngoại ngữ để hiểu đúng, kiểm chứng và làm chủ công cụ. Nếu thiếu nền tảng này, dễ rơi vào phụ thuộc, học thụ động, thậm chí lạm dụng AI trong kiểm tra.
Vì vậy, trong kỷ nguyên số, ngoại ngữ không mất đi vai trò mà trở thành năng lực cốt lõi, giúp con người giao tiếp, hợp tác và sáng tạo trong môi trường toàn cầu.
Phân tích điểm thi ngoại ngữ giai đoạn 2021–2025 cho thấy 2 giai đoạn rõ rệt.
Giai đoạn 2021–2024, khi ngoại ngữ là môn bắt buộc, điểm thi phản ánh khá đầy đủ mặt bằng năng lực học sinh, nên việc so sánh giữa các địa phương tương đối ổn định. TP.HCM, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu thường dẫn đầu; Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng thuộc nhóm khá; Hậu Giang, Sóc Trăng, Quảng Nam ở nhóm thấp. Điểm trung bình 12 địa phương đạt 5,71, cao hơn mức chung cả nước 5,22, cho thấy khác biệt rõ về điều kiện và chất lượng giáo dục.
Năm 2025 tạo ra "điểm gãy" khi ngoại ngữ trở thành môn tự chọn. Dữ liệu khi đó chỉ phản ánh nhóm học sinh dự thi, không còn đại diện toàn bộ. Hệ quả là thứ hạng biến động mạnh: Hải Dương, Cần Thơ tăng hạng, trong khi nhiều địa phương giảm sâu như Bà Rịa – Vũng Tàu, Sóc Trăng, Huế. Những biến động này chủ yếu do thay đổi tỷ lệ dự thi, không phản ánh đúng chất lượng thực.
Sau khi có kết quả thi tốt nghiệp THPT năm 2025, Bộ GD-ĐT thực hiện đối sánh điểm thi với 2 hệ thống khác nhau: với 63 tỉnh, thành phố (cũ) và 34 địa phương mới sau sáp nhập 1.7.2025.
Kết quả điểm trung bình điểm thi ngoại ngữ của 6 thành phố trực thuộc trung ương như sau: Hà Nội xếp thứ nhất cả nước và Cần Thơ xếp thứ 23/34.
Đây chỉ là cách nhìn dựa trên điểm thi, còn thực chất chất lượng ngoại ngữ, cần thêm chỉ số độ phủ ngoại ngữ (tỷ lệ phần trăm học sinh thi ngoại ngữ). Tuy nhiên, đây cũng là chỉ báo ban đầu cho biết điểm thi ngoại ngữ của bộ phận học sinh dự thi môn này của 6 thành phố trực thuộc trung ương sau sáp nhập.
Từ thực tế trên, có thể khẳng định: điểm thi không còn là thước đo duy nhất để đánh giá chất lượng ngoại ngữ. Đây là xu hướng chung khi giáo dục chuyển từ tiếp cận nội dung sang phát triển năng lực, đòi hỏi một hệ thống đối sánh mới.
Trước hết, cần tách bạch hai giai đoạn dữ liệu: giai đoạn 2021–2024 dùng để đánh giá hệ thống; từ 2025, điểm thi chỉ mang tính tham khảo, không thể xếp hạng tổng thể.
Tiếp theo, cần chuyển trọng tâm từ điểm số sang mức độ phổ cập năng lực. Câu hỏi quan trọng không phải là "điểm bao nhiêu" mà là "bao nhiêu học sinh sử dụng được ngoại ngữ". Các chuẩn như A2, B1 cần trở thành thước đo chính.
Đồng thời, cần tổ chức các đánh giá diện rộng độc lập trên mẫu đại diện, đo đủ 4 kỹ năng để so sánh khách quan giữa các địa phương. Việc đối sánh cũng nên theo nhóm địa phương có điều kiện và tỷ lệ dự thi tương đồng, thay vì so sánh chung.
Cuối cùng, cần gắn kết quả đầu ra với điều kiện dạy học và môi trường sử dụng ngoại ngữ, tránh đánh giá phiến diện chỉ dựa vào điểm số.
Khi vai trò thay đổi, cách dạy và học ngoại ngữ cũng phải đổi mới. Lâu nay, việc dạy học ngoại ngữ vẫn nặng về ngữ pháp, từ vựng và luyện thi – phù hợp với mục tiêu điểm số nhưng không còn đáp ứng yêu cầu sử dụng thực tế. Vì vậy, cần chuyển mạnh từ "truyền thụ kiến thức" sang "phát triển năng lực". Học sinh phải được rèn đủ 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết trong tình huống thực, biết tư duy, giải quyết vấn đề bằng ngoại ngữ.
Điều này đòi hỏi mở rộng môi trường học tập: từ lớp học sang câu lạc bộ, dự án, hoạt động trải nghiệm, không gian song ngữ… Ngoại ngữ cần trở thành một phần tự nhiên của đời sống học đường. Đồng thời, AI phải được tích hợp như công cụ học tập: học sinh không chỉ dùng để dịch hay viết mà còn biết đặt câu hỏi, kiểm chứng và hoàn thiện sản phẩm.
Khi cách dạy thay đổi, kiểm tra – đánh giá cũng phải đổi theo. Các bài kiểm tra viết truyền thống dần mất khả năng phân loại, cần chuyển sang đánh giá năng lực thực tế như giao tiếp, thuyết trình, làm việc nhóm, dự án; kết hợp đánh giá quá trình và hồ sơ học tập.
Việc ngoại ngữ trở thành môn thi tự chọn từ năm 2025 là bước ngoặt quan trọng, giúp giảm áp lực và thúc đẩy dạy học theo năng lực. Tuy nhiên, cũng có nguy cơ học sinh giảm đầu tư, nhất là ở vùng khó khăn. Đồng thời, dữ liệu điểm thi có thể bị "lệch" do tỷ lệ dự thi khác nhau, khiến việc so sánh giữa các địa phương kém chính xác.
Sự thay đổi của kỳ thi đã cho thấy rõ: cách đo cũ không còn phù hợp với mục tiêu mới. Khi ngoại ngữ trở thành năng lực nền tảng trong kỷ nguyên số, việc đánh giá vẫn chủ yếu dựa vào điểm thi là chưa đủ. Đã đến lúc chuyển từ "đối sánh điểm thi" sang "đối sánh năng lực thực", từ "xếp hạng" sang "cải thiện chất lượng".
Cần xây dựng một chỉ số đối sánh mới, phản ánh đồng thời hai yếu tố: mức độ phổ cập và chất lượng học tập. Một hướng khả thi là chỉ số ngoại ngữ tổng hợp cấp địa phương, dựa trên tỷ lệ học sinh dự thi (độ phủ) và điểm trung bình (chất lượng). Công thức đơn giản có thể là:
Thực tế năm 2025 cho thấy TP.HCM có khoảng 97.940 thí sinh, trong đó 49.328 em chọn thi ngoại ngữ, đạt tỷ lệ 50,37% (cao hơn mức chung 30,2%). Với điểm trung bình 5,69, chỉ số ngoại ngữ đạt 28,68. Hà Nội có 124.072 thí sinh, 62.203 em dự thi, tỷ lệ khoảng 50,1%, điểm trung bình 5,78, tương ứng chỉ số ngoại ngữ là 28,98. Điều này cho thấy hai đô thị lớn vẫn duy trì độ phủ ngoại ngữ cao, không chỉ là "mũi nhọn". Như vậy, chỉ số ngoại ngữ của Hà Nội cao hơn TPHCM.
Ưu điểm của cách tính này là không cho phép "đánh đổi" giữa số lượng và chất lượng. Địa phương điểm cao nhưng ít học sinh dự thi sẽ không thể dẫn đầu; ngược lại, nơi có tỷ lệ dự thi cao nhưng điểm thấp cũng khó đạt thứ hạng tốt. Muốn cải thiện, buộc phải nâng cả hai yếu tố.
Cách tiếp cận này phù hợp với yêu cầu mới: ngoại ngữ không chỉ là thế mạnh của một nhóm nhỏ mà cần trở thành năng lực phổ biến. Để tăng độ tin cậy, nên công bố đồng thời ba chỉ số: điểm trung bình, tỷ lệ dự thi và chỉ số tổng hợp, qua đó giúp nhận diện rõ điểm mạnh – yếu của từng địa phương.

