Tổng công ty Điện lực TP Hà Nội (EVN Hà Nội) cho biết theo Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Quốc gia, mùa hè năm nay ghi nhận xu hướng nắng nóng gia tăng sớm ngay từ cuối tháng 3 và đầu tháng 4.
Đặc biệt, các đợt nắng nóng diện rộng tại Bắc Bộ dự kiến sẽ xuất hiện với cường độ mạnh, nhiều thời điểm nhiệt độ có thể vượt ngưỡng 38 độ C. Diễn biến này kéo theo nguy cơ nhu cầu tiêu thụ điện tại các hộ gia đình và cơ sở kinh doanh tăng cao nếu không có biện pháp sử dụng hợp lý.
Đơn vị này khuyến cáo người dân điều chỉnh thói quen sử dụng điện, đặc biệt lưu ý hạn chế dùng thiết bị công suất lớn trong khung giờ cao điểm từ 12-15h và 21-23h mỗi ngày.
Đồng thời, đơn vị điện lực khuyến khích người dân tận dụng ánh sáng, gió tự nhiên ban ngày, trồng thêm cây xanh tại ban công, cửa sổ để làm mát không gian sống. Khi dùng điều hòa, nên đặt từ 26 độ C trở lên, kết hợp quạt để tiết kiệm điện và tránh quá tải.
Người dân cũng được đề nghị tắt thiết bị khi không dùng, hạn chế dùng công suất lớn giờ cao điểm để giảm áp lực lưới điện, tránh quá tải. Đồng thời, theo dõi điện năng tiêu thụ theo ngày trên website, app, chatbot…
Theo đơn vị điện lực, nhiệt độ môi trường là yếu tố tác động mạnh nhất đến nhu cầu điện. Vào mùa nắng nóng, việc sử dụng điều hòa, quạt, tủ lạnh tăng mạnh, khiến sản lượng điện toàn thành phố có thể lập đỉnh.
Thống kê cho thấy, nhiệt độ tăng lên 1 độ C có thể làm điện tiêu thụ tăng 2-3%; nếu tăng khoảng 5 độ C, tổng nhu cầu điện có thể tăng tới 10% do thiết bị làm mát phải hoạt động nhiều hơn.
Đáng chú ý, dù thời gian sử dụng không đổi, điện năng tiêu thụ khi nền nhiệt 35-40 độ C vẫn cao hơn rõ rệt so với mức 30-35 độ C do thiết bị phải hoạt động tải lớn, thậm chí quá tải cục bộ một số thời điểm.

Theo ghi nhận, toàn tỉnh Quảng Ngãi hiện có hơn 1.000ha trồng ớt, trong đó khoảng 765ha đang bước vào thu hoạch đầu vụ. Năng suất bình quân đạt hơn 82 tạ/ha. Dù sản lượng khá, nhưng giá bán lại lao dốc mạnh so với cùng kỳ năm ngoái.
Cùng thời điểm này năm 2025, giá ớt dao động 50.000-70.000 đồng/kg. Thế nhưng năm nay, ngay từ đầu vụ giá chỉ khoảng 14.000 đồng/kg và nhanh chóng giảm sâu xuống còn 5.000-7.000 đồng/kg.
Giữa ruộng ớt chín đỏ ở xã An Phú, bà Hiền thở dài, khoảng 5.000m² ớt của bà nhờ thời tiết ủng hộ mà quả đẹp. Nhưng giá xuống quá thấp khiến công sức chăm sóc gần như "đổ sông đổ biển".
"Giá này không đủ bù tiền giống, phân bón. Tôi tiếc nên tự hái, không dám thuê người vì không đủ trả công", bà Hiền thở dài.
Vựa ớt Quảng Ngãi đang rơi vào cảnh như bà Hiền. Thu hoạch thì lỗ, còn bỏ lại thì xót công, người dân mắc kẹt trong vòng luẩn quẩn "được mùa, mất giá".
Anh Nguyễn Duy Phước, một nông dân trồng ớt quy mô lớn tại xã Bình Sơn, cho biết mỗi ngày thu hoạch gần 2,5 tấn ớt nhưng bán ra chỉ khoảng 5.000 đồng/kg.
"Tiền phân, tiền thuốc, công chăm sóc đều tăng, mà giá bán thế này thì coi như lỗ nặng", anh Phước nói.
Theo các cơ sở thu mua, nguyên nhân chính khiến giá ớt giảm sâu là do thị trường tiêu thụ phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Trung Quốc.
Năm nay nhu cầu từ thị trường này giảm, trong khi chi phí vận chuyển tăng cao, nhiều xe container hạn chế hoạt động khiến đầu ra bị ách tắc.
Một cơ sở thu mua, đóng gói ớt tại xã An Phú cho biết mỗi ngày vẫn thu mua hơn chục tấn ớt, nhưng sức tiêu thụ yếu nên giá buộc phải giảm sâu. "Đầu ra chậm, chi phí tăng nên doanh nghiệp cũng khó xoay xở", đại diện cơ sở này nói.
Dọc đường Trường Sa, bờ nam sông Trà Khúc, hình ảnh ớt đỏ rực được người dân trải dài phơi khô trên đoạn gần 2km trở nên quen thuộc. Đây là cách nhiều hộ lựa chọn để "găm hàng", chờ giá nhích lên sẽ bán ớt khô nhằm gỡ gạc phần nào chi phí.
Tuy vậy trong bối cảnh thị trường chưa có dấu hiệu phục hồi, bài toán đầu ra cho nông sản vẫn là nỗi lo thường trực.
Tin Gốc: https://tuoitre.vn/ot-rot-gia-con-5-000-dong-kg-nong-dan-quang-ngai-lao-dao-20260411114141896.htm

Trao đổi thêm với báo Tuổi Trẻ, ông Đậu Anh Tuấn - Phó tổng thư ký, kiêm Trưởng ban pháp chế VCCI - nói:
Sau một giai đoạn dài xây dựng hoàn thiện, hệ thống pháp luật kinh doanh của chúng ta đã khá đầy đủ và toàn diện. Nhưng có nhiều luật đôi khi lại chồng lên nhau, mâu thuẫn nhau và mỗi nơi hiểu một kiểu.
Ví dụ doanh nghiệp (DN) muốn triển khai một dự án đầu tư sản xuất, họ phải đồng thời tuân thủ Luật Đầu tư, Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Phòng cháy chữa cháy... Mỗi luật riêng lẻ có thể hợp lý, nhưng các thủ tục yêu cầu lẫn nhau làm điều kiện tiên quyết, tạo thành một vòng lặp mà DN không biết bắt đầu từ đâu.
* Các luật đều được thẩm định kỹ, câu chuyện ông nói cụ thể thế nào?
Ví dụ để triển khai một dự án, DN cần chấp thuận chủ trương đầu tư để xin giao đất, nhưng hồ sơ chấp thuận đầu tư lại cần thông tin về đất đai. Muốn xin giấy phép xây dựng thì phải có quyền sử dụng đất và đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt.
Nhưng để lập báo cáo đánh giá môi trường lại cần có thiết kế cơ sở đủ chi tiết, mà thiết kế cơ sở chỉ có ý nghĩa khi đã xác định được mặt bằng. Các thủ tục cứ yêu cầu lẫn nhau, DN không biết bắt đầu từ đâu.
Giải pháp mà chúng tôi kiến nghị với Bộ Tư pháp rất rõ ràng: phải thay đổi cách rà soát pháp luật. Lâu nay chúng ta rà soát theo từng luật, đó là góc nhìn của cơ quan quản lý. Nhưng DN không sống theo từng luật, DN sống theo chuỗi hoạt động kinh doanh - từ thành lập, đầu tư, xây dựng, sản xuất, xuất nhập khẩu cho đến giải thể.
Chỉ khi nào chúng ta đặt mình vào vị trí của người phải tuân thủ, đi theo hành trình của họ, thì mới nhìn thấy hết những điểm nghẽn, chồng chéo mà DN đang gánh chịu hàng ngày.
Bên cạnh đó, khâu thực thi cần có cơ chế giải thích pháp luật thống nhất. Hiện cùng một điều luật mà cơ quan thuế có thể hiểu một đằng, cơ quan đất đai hiểu một nẻo, DN bị kẹt ở giữa và chịu rủi ro pháp lý. DN cần biết trước hệ quả pháp lý của quyết định kinh doanh của mình. Đó là điều kiện tối thiểu để họ dám đầu tư, dám mở rộng sản xuất.
* Theo VCCI, nhiều ngành vẫn duy trì cơ chế "xin cho" dưới hình thức giấy phép con, ý kiến chấp thuận, văn bản xác nhận... Liệu có giải pháp rốt ráo nào không?
Những năm qua, Chính phủ đã quyết liệt cắt bỏ hàng nghìn điều kiện kinh doanh, nhưng thực tế cho thấy nhiều ngành vẫn duy trì cơ chế "xin cho" dưới những cái tên mới như chứng nhận đủ điều kiện, ý kiến chấp thuận, văn bản xác nhận... Tên gọi thay đổi, nhưng bản chất tiền kiểm vẫn nguyên. DN vẫn phải xếp hàng chờ đợi.
Có một nghịch lý: khi chuyển sang hậu kiểm thì năng lực thanh tra, kiểm tra lại chưa theo kịp. Kết quả là hoặc buông lỏng, hoặc thanh tra kiểm tra tràn lan, chồng chéo, gây phiền hà không kém gì tiền kiểm.
Chúng tôi kiến nghị ba việc cần làm đồng thời. Thứ nhất, tổng rà soát thực chất tất cả các loại giấy phép, điều kiện kinh doanh. Với từng loại phải trả lời được ba câu hỏi: có thực sự cần thiết? có thể thay thế bằng hậu kiểm? chi phí tuân thủ bao nhiêu? Nếu không trả lời được thì nên bỏ.
Thứ hai, đề nghị nghiên cứu áp dụng nguyên tắc mỗi điều kiện kinh doanh mới phải đi kèm bãi bỏ ít nhất một điều kiện cũ có gánh nặng tuân thủ tương đương. Các nước Anh, Đức, Hàn Quốc đã áp dụng thành công mô hình này. Nó tạo ra một kỷ luật tự nhiên cho cơ quan quản lý.
Thứ ba, phải xây dựng năng lực hậu kiểm dựa trên rủi ro. Không thể thanh tra đại trà tất cả DN như nhau. Phải ứng dụng công nghệ dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo để phân loại rủi ro.
* Nhiều DN nói pháp luật thay đổi nhanh, họ không thể lập kế hoạch kinh doanh ổn định trong dài hạn, ông nghĩ sao?
Đây là một trong những phản ánh mà chúng tôi nhận được nhiều, đặc biệt từ các nhà đầu tư nước ngoài và các DN có dự án dài hạn.
Hãy hình dung thế này, một DN đầu tư một nhà máy, vòng đời dự án 10 - 15 năm. Họ tính toán từ ưu đãi thuế, điều kiện sử dụng đất, quy chuẩn môi trường, chi phí lao động... Nhưng chưa đầy 1 - 2 năm, luật thay đổi, nghị định mới ra đời, thông tư hướng dẫn chưa kịp ban hành thì luật đã bị sửa.
Tác động có hai tầng. Thứ nhất là chi phí tuân thủ trực tiếp, DN phải chỉnh quy trình nội bộ, đào tạo lại nhân sự, thậm chí thuê thêm luật sư và tư vấn xem mình có vi phạm gì không. Với DN nhỏ và vừa, chi phí này là gánh nặng lớn.
Tầng thứ hai nguy hiểm hơn: DN trì hoãn đầu tư, ngại mở rộng, không dám đổi mới. Đó là tổn thất mà chúng ta không nhìn thấy trên sổ sách nhưng rất thực.
Chúng tôi không đề nghị pháp luật đứng yên. Nhưng thời gian chuyển tiếp tối thiểu cần 12 - 24 tháng, trừ trường hợp khẩn cấp. Với dự án đầu tư lớn và dài hạn, cần áp dụng điều khoản ổn định đầu tư - tức là cam kết không áp dụng hồi tố các thay đổi bất lợi về thuế, ưu đãi đầu tư trong một thời hạn nhất định. Đây là thông lệ quốc tế nhiều nước trong khu vực đã áp dụng.
* Việt Nam đẩy mạnh phân cấp phân quyền, vì sao VCCI kiến nghị bổ sung nguyên tắc "thống nhất thị trường quốc gia"?
Cộng đồng DN hoàn toàn ủng hộ việc phân cấp phân quyền nhưng phải có giới hạn là sự thống nhất của thị trường quốc gia.
Các DN hoạt động đa tỉnh thành phản ánh rất nhiều với chúng tôi rằng cùng một quy định pháp luật nhưng mỗi tỉnh hiểu và áp dụng một khác. Cùng một loại hàng hóa, ở tỉnh A thì được phép, sang tỉnh B thì bị yêu cầu thêm giấy phép.
Cùng một quy chuẩn phòng cháy chữa cháy, tỉnh này áp dụng thoáng, tỉnh kia áp dụng chặt... DN có nhà máy ở ba bốn tỉnh phải đối phó với ba bốn bộ quy tắc khác nhau.
Điều này gây ra chi phí tuân thủ tăng, bất bình đẳng, có thể đánh mất lợi thế quy mô. Vì vậy VCCI kiến nghị chính quyền địa phương không được ban hành quy định tạo ra rào cản đối với lưu thông hàng hóa, dịch vụ, lao động, vốn giữa các địa phương.
Chính phủ cần tăng cường kiểm tra, rà soát. Đồng thời cần xây dựng cơ sở dữ liệu công khai về cách áp dụng pháp luật của từng địa phương trong các lĩnh vực trọng yếu để DN có thể tra cứu và so sánh. Khi mọi thứ minh bạch, sự khác biệt vô lý sẽ tự động bị phát hiện và điều chỉnh.
Tin Gốc: https://tuoitre.vn/cai-cach-the-che-thuc-day-tang-truong-hai-con-so-20260405230658314.htm

Quý đầu năm, Việt Nam xuất khẩu 122,93 tỷ USD hàng hóa, theo Cục Thống kê. Con số này cao hơn 19,1% so với cùng kỳ năm ngoái và mở rộng nhanh hơn mức tăng 10,6% của quý I/2025.
Tuy nhiên, việc duy trì phong độ tăng trưởng này trong ba quý còn lại không dễ, do xung đột tại Trung Đông khiến giá nhiên liệu, vận tải và kéo theo là nguyên vật liệu đầu vào leo thang.
Khảo sát chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) tháng 3 của S&P Global cho biết một nửa doanh nghiệp được hỏi phản ánh chi phí đầu vào tháng qua tăng nhanh nhất kể từ tháng 4/2022. Họ phản ứng bằng cách nâng giá bán, với tốc độ cao nhất gần 15 năm, khiến đơn đặt hàng xuất khẩu mới quay đầu giảm.
Ông Andrew Harker, Giám đốc Kinh tế tại S&P Global Market Intelligence, chỉ ra diễn biến này phản ánh "những ảnh hưởng ngay lập tức và đáng kể" mà các nhà sản xuất tại Việt Nam phải đối diện.
Đáng chú ý, doanh nghiệp nội địa có dấu hiệu "ngấm đòn" trước. Trong kim ngạch xuất khẩu quý vừa qua, khu vực kinh tế trong nước chỉ góp 24,47 tỷ USD, giảm 16,6%. Trong khi, FDI và dầu thô gánh 80% kế quả, tăng trưởng 33,3%.
Khảo sát kết quả sản xuất kinh doanh quý I của Cục Thống kê cũng chỉ ra khối FDI đang lạc quan nhất, với 71,7% đánh giá tình hình tốt hơn và giữ ổn định. Ở khối doanh nghiệp nhà nước và tư nhân, tỷ lệ này lần lượt là 69,5% và 68,3%.
Ông Phạm Văn Việt, Chủ tịch HĐQT Công ty Việt Thắng Jean, xác nhận giá cả nguyên liệu và chi phí vận chuyển đều tăng. "Đã có dấu hiệu gián đoạn chuỗi cung ứng khi một số nhà cung cấp chỉ xác nhận đơn hàng mà không cam kết ngày giao hoặc giá cả", ông kể trong sự kiện gần đây.
Ngay cả với những ngành xuất khẩu không phụ thuộc nguyên liệu nước ngoài như trái cây, Chủ tịch Vina T&T Nguyễn Đình Tùng cho biết vẫn không tránh khỏi áp lực. "Chúng tôi cũng phải đối mặt với chi phí xăng dầu, kéo theo cơ sở hạ tầng logistics, vật tư và bao bì từ nhà cung cấp tăng", ông chỉ ra.
Để hạn chế tác động, duy trì đầu ra, một số doanh nghiệp tìm cách điều chỉnh sản phẩm và hướng đi của đơn hàng. Ông Tùng chỉ ra chiến sự làm tăng cước tàu và kéo dài thời gian vận chuyển đi châu Âu hoặc Mỹ tăng thêm 15 ngày.
Do đó, ông tập trung thêm vào các sản phẩm chế biến sâu để giảm phụ thuộc vào hàng tươi và chuyển đổi từ các thị trường xa sang các thị trường gần để giảm chi phí vận chuyển và tránh vùng xung đột. Hay Việt Thắng Jean trước đây xuất khẩu sang EU và Mỹ chiếm 60%, nhưng đã điều tiết giảm xuống còn khoảng 44%.
Doanh nghiệp vẫn cần thêm hỗ trợ. Khảo sát nhóm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Cục Thống kê chỉ ra 48,7% doanh nghiệp kiến nghị ưu tiên kiểm soát và bình ổn giá năng lượng, nhằm giảm áp lực đầu vào.
Cùng với đó, sớm có giải pháp hỗ trợ tín dụng, đặc biệt là doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp nông nghiệp, nhỏ và vừa, đang gặp khó trong xoay xở vốn lưu động. Đồng thời, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, tăng khả năng tiếp cận vốn cho các doanh nghiệp bị ảnh hưởng trực tiếp bởi biến động bên ngoài.
Một số giải pháp dài hơi hơn cũng được đặt ra. Là Phó chủ tịch Hội Dệt may - Thêu đan TP HCM, ông Phạm Văn Việt chỉ ra chuỗi cung ứng ngành này chưa tối ưu nên chi phí sản xuất cao hơn các nước khác khoảng 20%. Cùng với đó, công nghệ chưa tiên tiến khiến giá thành cao hơn từ 10-12% so với các nước đối thủ.
Khi giá đầu vào tăng vọt bào mòn thêm biên lợi nhuận mỏng manh, ông cho rằng cần nhanh chóng tăng liên kết chuỗi trong nước để chủ động nguồn nguyên liệu; đồng thời, cần cải thiện và thay đổi công nghệ để giảm giá thành.
Cuộc xung đột cũng làm tăng mối quan tâm đến các phương án vận tải giảm hoặc không phát thải. Ông Nhữ Đình Thiện, Tổng thư ký Hiệp hội Đại lý, Môi giới và Dịch vụ hàng hải Việt Nam khuyến nghị tăng đầu tư cho hoạt động thủy nội địa.
Chuyên gia chỉ ra Việt Nam có hơn 80.000 km sông ngòi, với khoảng 40.000 km có thể khai thác vận tải, nhưng vận tải thủy nội địa đóng góp chưa tới 20% sản lượng. Ông Thiện ví dụ việc vận chuyển một container ra khu vực Cái Mép bằng đường bộ có thể mất 4-5 triệu đồng và tốn nhiều thời gian do kẹt xe. Trong khi, một xà lan có thể chở từ 100 đến 200 container, giúp cắt giảm chi phí đáng kể.
Phương tiện điện cũng được tính đến. "Chúng tôi đang cố gắng chuyển đổi cơ sở hạ tầng logistics từ sử dụng xăng dầu sang dùng điện và lắp thêm các tấm pin mặt trời", ông Nguyễn Đình Tùng tại Vina T&T, cho biết.
Đã có triển vọng cho hướng đi này. Tại một hội nghị kinh doanh mới đây, ông Kevin Stuart Burrell, Giám đốc Điều hành khu vực Mekong của A.P. Moller - Maersk, cho biết đã đạt được chi phí vận hành đội xe tải điện bằng với xe xăng sau ba tháng thử nghiệm tại Việt Nam, dù chi phí đầu tư ban đầu gấp 2,5 lần xe xăng.
Theo ông Nguyễn Ngọc Hòa, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TP HCM, việc hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó với thách thức của xung đột Trung Đông không chỉ dừng ở các giải pháp ngắn hạn, mà cần hướng đến xây dựng một môi trường kinh doanh thực sự thuận lợi, nơi doanh nghiệp có thể yên tâm đầu tư dài hạn, đổi mới và phát triển bền vững.
"Đồng thời, Việt Nam cần có những cơ chế cụ thể hơn để hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong quá trình chuyển đổi, đặc biệt là về tài chính, công nghệ và nguồn nhân lực", ông nói tại một diễn đàn kinh tế tháng trước.
Viễn Thông
Tin Gốc: https://vnexpress.net/bai-toan-giu-phong-do-xuat-khau-trong-xung-dot-trung-dong-5059167.html

