Mục Lục
ToggleNgày 6.4, Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Đắk Lắk cho biết đơn vị vừa ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với bà M.T.H (chủ hộ kinh doanh ở xã Krông Á) để điều tra về hành vi trốn thuế.
Theo kết quả điều tra ban đầu, hộ kinh doanh M.T.H hoạt động trong lĩnh vực thu mua gỗ keo, gỗ cao su và các loại gỗ tạp. Sau khi thu mua, bà H. bán lại cho các doanh nghiệp nhằm hưởng phần chênh lệch giá. Hộ kinh doanh này thực hiện nghĩa vụ thuế theo phương pháp khoán theo quy định.
Tuy nhiên, trong năm 2022, dù doanh thu thực tế từ hoạt động kinh doanh lên đến khoảng 143 tỉ đồng nhưng chủ hộ chỉ kê khai và nộp thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân với số tiền 900.000 đồng, tương ứng với mức doanh thu tự kê khai chỉ 144 triệu đồng.
Qua quá trình xác minh, khi quy mô kinh doanh có sự thay đổi lớn, hộ kinh doanh M.T.H đã không thực hiện việc kê khai điều chỉnh, bổ sung tờ khai thuế theo quy định.
Với hành vi cố tình không kê khai đúng doanh thu nhằm mục đích trốn thuế, hộ kinh doanh M.T.H gây thất thu ngân sách Nhà nước với số tiền khoảng 2,1 tỉ đồng.
Hiện cơ quan chức năng tiếp tục điều tra mở rộng vụ án để xử lý theo quy định.
Lâm Đồng sẽ giảm 28 phó giám đốc sở

Ngày 6-4, Sở Nội vụ tỉnh Lâm Đồng cho biết vừa có tờ trình gửi UBND tỉnh về việc quy định số lượng cấp phó giám đốc sở và tương đương tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh.
Theo cơ quan này, sau sắp xếp, tỉnh đã thành lập 14 cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, đồng thời chủ tịch UBND tỉnh cũng đã ký các quyết định bổ nhiệm cấp phó đối với người đứng đầu các sở.
Theo quy định hiện hành, tổng số lượng phó giám đốc sở và tương đương tại Lâm Đồng được bố trí tối đa là 73 người. Tuy nhiên số lượng thực tế hiện nay đang là 101 người, vượt 28 người so với định mức. Do đó tỉnh Lâm Đồng sẽ tính toán để giảm 28 phó giám đốc sở.
Sở Nội vụ Lâm Đồng cho rằng cần tính toán số lượng cấp phó ở từng sở theo quy mô tổ chức, phạm vi quản lý, số biên chế được giao, khối lượng công việc và mức độ phức tạp của lĩnh vực phụ trách.
Những sở quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, khối lượng việc lớn cần được bố trí số lượng cấp phó cao hơn mức bình quân chung.
Ngược lại, những sở có ít chuyên ngành hoặc đã chuyển bớt chức năng, nhiệm vụ cho đơn vị khác thì bố trí thấp hơn.
Cụ thể, Sở Nội vụ đề xuất bố trí tối đa 7 phó giám đốc cho 3 sở: Nông nghiệp và Môi trường, Tài chính, Xây dựng. Đây là các sở được đánh giá có phạm vi quản lý rộng, đầu việc nhiều, liên quan nhiều lĩnh vực quan trọng của tỉnh.
Ngoài ra, Văn phòng UBND tỉnh và Sở Nội vụ được đề xuất tối đa 6 cấp phó mỗi đơn vị. 6 đơn vị gồm Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Công Thương, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Y tế, Sở Giáo dục và Đào tạo, Thanh tra tỉnh được bố trí tối đa 5 cấp phó.
Sở Tư pháp và Sở Dân tộc và Tôn giáo mỗi đơn vị 4 cấp phó, còn Sở Ngoại vụ là 2 cấp phó. Theo phương án này, tổng số lượng phó giám đốc sở được bố trí sẽ về đúng mức 73/73.
Tin Gốc: https://tuoitre.vn/lam-dong-se-giam-28-pho-giam-doc-so-20260406154319377.htm
Điều tra vụ thi thể bé trai sơ sinh dưới chân cầu Phú Mỹ, TP.HCM

Ngày 5.4, Công an phường Cát Lái đang phối hợp các đơn vị nghiệp vụ Công an TP.HCM điều tra, làm rõ vụ phát hiện thi thể một em bé tại khu vực sông Sài Gòn dưới chân cầu Phú Mỹ.
Theo thông tin ban đầu, khoảng 10 giờ 45 cùng ngày, Công an phường Cát Lái nhận tin báo từ người dân đi ghe trên sông về việc phát hiện một thi thể em bé nổi trên mặt nước. Lực lượng chức năng nhanh chóng có mặt, tiến hành kiểm tra hiện trường.
Tại khu vực bãi đất trống dưới chân cầu Phú Mỹ, cơ quan công an ghi nhận một thi thể em bé được đặt trong túi vải màu xanh, treo trên cột đèn báo hiệu ven sông. Qua nhận diện ban đầu, nạn nhân là bé trai, vẫn còn dây rốn.
Bước đầu, cơ quan chức năng chưa xác định được người báo tin.
Các đơn vị nghiệp vụ thuộc Công an TP.HCM đã phối hợp khám nghiệm hiện trường, lập hồ sơ ban đầu và hoàn tất thủ tục đưa thi thể nạn nhân đi giám định để xác định nguyên nhân tử vong.
Vụ việc đang được tiếp tục xác minh, làm rõ.
Bắc Hưng Hải - từ đại thủy nông đến dòng sông chết

Buổi sáng đầu tháng 4, đứng bên con kênh ở phường Hải Dương, TP Hải Phòng, ông Lê Văn Sử buồn bã nhìn dòng nước đen đặc, ruồi nhặng bu vào một số con cá chết lập lờ trên mặt nước. Người đàn ông 85 tuổi không thể ngờ mạch sống của người dân Hải Dương cũng như nhiều tỉnh thành lân cận lại ô nhiễm đến thế.
Mười năm chín hạn
Trước khi công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải được xây dựng, cánh đồng của tỉnh Hải Dương cũ chỗ thì khô hạn kéo dài, chỗ lại ngập úng quanh năm. Nhà ông Sử ở xã Thanh Hồng, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương cũ, vốn đông người, ruộng có nhưng nhiều vụ phải bỏ không vì thiếu nước hoặc vì nước ngập quá lâu không thể cấy lúa. Những mùa giáp hạt trở thành nỗi ám ảnh của ông.
"Cái đói kéo dài hết năm này sang năm khác, nhìn ai cũng gầy gò, ốm yếu, đen đúa", ông Sử nhớ lại những năm 1940-1950.
Vùng Bắc Hưng Hải là đồng bằng rộng hơn 214.000 ha, được bao bọc bởi bốn con sông lớn gồm sông Hồng, Đuống, Luộc và Thái Bình. Lưu vực hệ thống trải dài trên toàn bộ tỉnh Hưng Yên (cũ), phần lớn Hải Dương (cũ), cùng một phần Hà Nội và Bắc Ninh.
Địa hình tương đối thấp, cao trung bình chỉ khoảng 0,5-1 m so với mực nước biển, vốn rất thuận lợi cho canh tác nông nghiệp nếu có nguồn nước ổn định. Tuy nhiên, trong nhiều thập kỷ trước đó, phần lớn ruộng đồng trong vùng vẫn phải phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nước mưa.
Những năm hạn hán, đất đồng nứt nẻ, lúa chết khô. Khi mưa lớn hoặc nước sông dâng cao, đồng ruộng lại ngập úng kéo dài khiến mùa màng thất bát. Người dân trong vùng vẫn truyền nhau câu nói "mười năm chín hạn" (10 năm thì hết 9 năm hạn hán) để nói về sự bấp bênh trong sản xuất nông nghiệp.
Nguồn nước sinh hoạt cũng không khá hơn. Ao làng có nước song chua đến mức người lội xuống lâu một chút là rụng cả lông chân. Bệnh ngoài da khá phổ biến. Ông Sử nhớ những lần đi thực tập về quê không dám rửa chân bằng nước ao làng, phải xách nước nuôi cá ở chỗ khác về rửa. Dân gian khi ấy còn truyền nhau câu nói khá nặng nề về vùng đất "sống ngâm da, chết ngâm xương".
Đại thủy nông lớn nhất miền Bắc
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, miền Bắc bước vào giai đoạn khôi phục kinh tế, nhu cầu đảm bảo nước cho sản xuất nông nghiệp trở thành cấp bách. Năm 1956, Chính phủ quyết định xây dựng hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải nhằm đưa nước từ sông Hồng vào tưới tiêu cho vùng đồng bằng rộng lớn.
Theo thiết kế, nước từ sông Hồng qua cống Xuân Quan (Hưng Yên), dẫn theo kênh trục chính rồi tỏa ra mạng lưới kênh nhánh trước khi thoát ra cống An Thổ (Hải Phòng), tạo thành tuyến thủy lợi dài hơn 230 km trên trục chính và hàng nghìn kilomet kênh mương nội đồng. Toàn bộ hệ thống có khoảng 1.900 công trình cống, trạm bơm các loại, đảm bảo khả năng tưới tiêu chủ động cho hơn 130.000 ha đất canh tác trong lưu vực Bắc Hưng Hải.
Trước khi chuẩn bị khởi công, ngày 20/9/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về nói chuyện với công nhân và nhân dân trên công trường Bắc Hưng Hải. Bác động viên người dân: "Nay Đảng và Chính phủ quyết định cùng nhân dân xây dựng công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải để đưa nước vào ruộng cho đồng bào. Cán bộ và đồng bào quyết tâm vượt mọi khó khăn, làm cho nhanh, cho tốt. Bây giờ chịu khó phấn đấu mấy tháng, sau này sẽ hưởng hạnh phúc lâu dài hàng trăm năm".
Ngày 1/10/1958, công trình khởi công. Hàng chục nghìn bộ đội, dân công, học sinh, sinh viên và cán bộ từ nhiều địa phương tham gia đào kênh, đắp đập và xây dựng các cống, trạm bơm điều tiết nước. Ở làng gốm Bát Tràng, gần 150 hộ dân tự nguyện dỡ nhà lấy đất đào tuyến kênh trục chính.
Sau khi cống Xuân Quan hoàn thành và đưa nước vào đồng ngày 30/10/1959, việc xây dựng toàn hệ thống được triển khai nhanh chóng. Giai đoạn đầu, 26 trạm bơm cố định và 26 trạm bơm thuyền được xây để cấp nước cho các khu ruộng cao và hỗ trợ tiêu thoát nước. Các tuyến sông tự nhiên như Kim Sơn, Đình Đào, Cửu An, Tứ Kỳ được cải tạo, nạo vét và kết nối với mạng lưới kênh đào mới, tạo thành hệ thống thủy lợi liên hoàn.
Sau 7 tháng thi công, hệ thống hoàn thành, trở thành công trình thủy lợi lớn nhất miền Bắc thời bấy giờ, còn được gọi là "Đại thủy nông Bắc - Hưng - Hải". Ông Sử bảo cuộc sống của gia đình ông và hàng triệu người đã thay đổi vì đại thủy nông này.
Từ mùa vàng bội thu đến dòng nước đổi màu
Năm 1962, sau khi tốt nghiệp đại học, ông Sử được phân công về làm việc tại Công ty Bắc Hưng Hải. Những chuyến đi kiểm tra hệ thống khi đó khiến ông không khỏi ngạc nhiên trước sự thay đổi của dòng nước trong vùng.
"Nước trong đến mức nhìn thấy đáy. Ai cũng có thể tắm giặt ngay trên kênh", ông nhớ lại.
Nguồn nước dồi dào nhanh chóng làm thay đổi sản xuất nông nghiệp. Những cánh đồng trước kia phụ thuộc vào nước mưa bắt đầu có thể gieo cấy hai vụ lúa mỗi năm, năng suất vụ đầu đã đạt 60-62 tạ/ha, tổng sản lượng lúa trong vùng hơn 1,2 triệu tấn. Nhiều địa phương trong lưu vực Bắc Hưng Hải dần trở thành những vùng sản xuất lúa trọng điểm của đồng bằng Bắc Bộ.
Nguồn nước từ hệ thống kênh mương còn tạo điều kiện phát triển nuôi trồng thủy sản. Ở xã Đại Thắng (Hải Phòng), ông Vũ Văn Kế đã gắn bó với nghề nuôi thủy sản trên kênh Bắc Hưng Hải gần nửa thế kỷ. Có thời điểm gia đình ông nuôi tới 4-5 lồng cá trên kênh. Nguồn nước sạch giúp cá sinh trưởng tốt.
Không chỉ cá nuôi lồng, nhiều loại thủy sản tự nhiên cũng phát triển mạnh. Có những vụ, riêng rươi ông Kế thu hoạch được hơn 2 tấn. "Cá mè, cá chép nhiều vô kể. Riêng khu vực cống Xuân Quan có lần kéo lưới lên được hàng chục tấn cá", ông Kế nhớ lại. Nguồn lợi thủy sản dồi dào khiến nhiều gia đình sống ven kênh có thêm sinh kế ngoài trồng lúa.
Tuy nhiên, từ cuối những năm 1990 trở lại đây, dòng kênh từng trong xanh bắt đầu thay đổi. Những đoạn nước đục và có mùi hôi xuất hiện trước tiên ở khu vực gần khu dân cư và làng nghề, sau đó lan dần ra nhiều tuyến kênh trong hệ thống, ông Sử nhớ lại.
"Nguồn nước ô nhiễm trầm trọng từ năm 2000. Mỗi lần thả lưới xuống đánh cá, nếu thu được 5 kg cá thì tôi phải mất tới 3 ngày để gỡ hết túi nylon mắc trên lưới", ông Kế kể.
Quá trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp trong lưu vực khiến lượng nước thải đổ vào hệ thống ngày càng lớn. Hiện Bắc Hưng Hải phải tiếp nhận nước thải từ khu dân cư, làng nghề và nhiều khu công nghiệp nằm dọc tuyến kênh.
Theo Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, mỗi ngày tổng lượng nước thải xả vào hệ thống khoảng 538.830 m3, trong đó phần lớn chưa được xử lý triệt để. Khi lượng nước thải vượt quá khả năng tự làm sạch của dòng chảy, chất lượng nước bắt đầu suy giảm.
Báo cáo tháng 2/2026 của Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường cho biết tình trạng ô nhiễm tập trung chủ yếu tại các điểm Xuân Thụy, Bình Lâu và Ngọc Đà. Các chỉ tiêu dinh dưỡng và hữu cơ trong nước tại đây đều vượt xa quy chuẩn môi trường nước mặt.
Đơn cử nồng độ amoni cho phép chỉ khoảng 0,3 mg/l, nhưng tại trạm Xuân Thụy (Hưng Yên) lên 25,6 mg/l, cao gấp hơn 85 lần. Hàm lượng oxy hòa tan chỉ khoảng 2 mg/l, thấp hơn nhiều so với mức tối thiểu 4 mg/l cần thiết để duy trì hệ sinh thái thủy sinh. Tại trạm Bình Lâu (Hải Phòng), nồng độ amoni trung bình khoảng 22 mg/l, cao gấp hơn 70 lần quy chuẩn.
Dọc nhiều tuyến kênh, nước chuyển màu đen, bọt trắng nổi dày và mùi hôi bốc lên nồng nặc. Những lồng cá từng mang lại thu nhập cho gia đình ông Kế buộc cũng phải tháo dỡ. Nước bẩn, cá, rươi nuôi không nổi vì năng suất giảm bảy, tám lần. Cả gia đình con cái ngày trước quây quần làm thủy sản, giờ phải phân tán đi làm công ty, ông Kế kể.
Chứng kiến các dòng kênh trong hệ thống Bắc Hưng Hải đang chết dần, ông Kế, ông Sử không khỏi xót xa. Không dám hy vọng có những mùa cá bội thu như trước, họ chỉ mong dòng kênh trở lại trong xanh.
"Mong ước đó không biết có viển vông quá không?", ông Sử tự hỏi.
Gia Chính - Mộc Miên
Tin Gốc: https://vnexpress.net/bac-hung-hai-tu-dai-thuy-nong-den-dong-song-chet-5050257.html




