Trang Business Insider ngày 6-4 đưa tin, giá vàng đắt đỏ đang định hình lại cách các cặp đôi lựa chọn nhẫn đính hôn và nhẫn cưới. Nhiều đôi uyên ương phải suy nghĩ lại mọi thứ, từ kế hoạch cầu hôn đến chất liệu đúc nhẫn.
Mặc dù đã giảm đáng kể so với mức đỉnh kỷ lục trên 5.500 USD/ounce hồi cuối tháng 1-2026, giá vàng giao ngay hiện vẫn cao hơn khoảng 7% (gần mức 4.650 USD/ounce). So với đầu năm 2025, mức giá này đã tăng hơn 70%.
Ông Peter Manka, đồng sở hữu cửa hàng kim hoàn Ben Garelick ở thành phố New York (Mỹ), cho biết một chiếc nhẫn cầu hôn gắn kim cương nhân tạo có giá trung bình 1.544 USD vào năm 2023 đã tăng lên 2.408 USD vào năm 2025 – tăng 47% chỉ sau hai năm.
Đáng chú ý, mức tăng này xảy ra ngay cả khi giá kim cương rời tại cửa hàng đã giảm gần 40%. Điều này cho thấy vàng chính là yếu tố duy nhất đẩy giá trang sức lên cao.
Khoảng 25-30% khách hàng mua nhẫn cầu hôn đã quyết định lùi thời điểm mua, và do đó lùi cả kế hoạch cầu hôn, với hy vọng giá vàng sẽ hạ nhiệt.
Theo ông Manka, những khách hàng đang do dự có thể lựa chọn trả góp nhằm “bảo lưu” mức giá hiện tại.
Tại Ben Garelick, khách hàng mua nhẫn đính hôn chủ yếu lựa chọn vàng 24K (độ nguyên chất khoảng 58,3%).
Đáng chú ý, khoảng 35-40% nam giới hiện chọn nhẫn cưới bằng vàng 10K (chứa 41,7% vàng nguyên chất) hoặc hợp kim vàng – tantalum.
Giá nhẫn cưới nam tại Ben Garelick trung bình tăng từ 1.050 USD vào năm 2023 lên 1.575 USD vào năm 2025. Nhẫn cưới nữ tăng khiêm tốn hơn, từ 1.700 USD lên 1.800 USD, một phần là do kim cương nhân tạo và các lựa chọn vàng 10K giúp “kìm hãm” chi phí.
Ông Manka cho biết lượng khách hàng mang trang sức hồi môn đến cửa hàng để đúc nhẫn đính hôn và nhẫn cưới đã tăng lên khoảng 10-15%.
Ngược lại, ở phân khúc trang sức cao cấp như thương hiệu Henri Noel tại bang Florida, khách hàng vẫn ưu tiên vàng 14K hoặc 18K vì họ coi đây là tài sản chứa đựng cảm xúc lâu dài và không muốn hạ cấp chất liệu cho những cột mốc quan trọng.
Bà Vivian Grimes, người sáng lập thương hiệu nói trên, cho biết bà nhận thấy nhiều khách hàng quay lại sử dụng những món đồ gia truyền trong những tháng gần đây.
“Khách hàng đang nhận ra rằng những món trang sức nằm trong ngăn kéo thường là một trong những tài sản ý nghĩa và có giá trị nhất mà họ đang sở hữu”, bà Grimes nói.
Theo ông Max Baecker, chủ tịch thương hiệu American Hartford Gold, người tiêu dùng bắt đầu nhìn nhận vàng không chỉ là vật trang trí mà là một tài sản hữu hình có giá trị nội tại, đặc biệt là trong những thời kỳ bất ổn.
Pandora – thương hiệu nổi tiếng với sản phẩm vòng tay bạc – đang kỳ vọng vào bạch kim trong năm 2026. Họ giới thiệu các phiên bản mạ bạch kim cho những sản phẩm bán chạy nhất để giảm sự phụ thuộc vào giá bạc đang biến động.
Công ty Tiffany & Co, thuộc sở hữu của Tập đoàn LVMH, vốn gắn liền với bạc sterling (chứa 92,5% bạc nguyên chất) cũng đang chuyển hướng sang các dòng sản phẩm bằng vàng và trang sức cao cấp.
Ngoài giá vàng, các rào cản thuế quan đối với hàng hóa nhập khẩu từ Ấn Độ (nơi cắt gọt 90-95% kim cương thế giới) từ mùa hè năm ngoái cũng góp phần làm tăng chi phí sản xuất.
Sau cuộc họp ngày 5/4, Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ và đồng minh (OPEC+) thống nhất tăng hạn ngạch sản xuất thêm 206.000 thùng một ngày trong tháng 5. Mức tăng này tương đương tháng 4.
Tuy nhiên, con số trên được đánh giá khiêm tốn và chỉ có ý nghĩa trên giấy tờ, do các thành viên chủ chốt hiện khó nâng sản lượng. Tại vùng Vịnh, cơ sở hạ tầng đang chịu thiệt hại do các cuộc tấn công bằng tên lửa và thiết bị bay không người lái. Một số quan chức cho biết kể cả khi chiến sự chấm dứt và eo biển Hormuz được mở lại, các nước vẫn mất vài tháng để khôi phục hoạt động và đạt mục tiêu sản lượng.
Cuộc xung đột khiến eo biển Hormuz gần như bị phong tỏa từ cuối tháng 2, chặn tuyến đường xuất khẩu của nhiều nước thành viên OPEC+ như Arab Saudi, UAE, Kuwait và Iraq. Đây là các quốc gia có khả năng nâng sản xuất mạnh nhất trước chiến sự.
Những nước khác trong OPEC+, như Nga, hiện cũng không thể tăng sản lượng, vì các lệnh trừng phạt của phương Tây và thiệt hại với cơ sở hạ tầng trong chiến sự Ukraine.
"Thực tế là số dầu được bổ sung ra thị trường rất ít. Khi eo biển Hormuz vẫn đóng, việc OPEC+ tăng sản xuất ít có ý nghĩa", Jorge Leon - cựu quan chức OPEC, hiện làm việc tại hãng tư vấn năng lượng Rystad Energy nhận định.
Mức tăng trên chỉ tương đương gần 2% lượng dầu bị thiếu hụt do eo biển Hormuz tê liệt. Tuy nhiên, nó cũng cho thấy OPEC+ sẵn sàng nâng sản xuất ngay khi tuyến đường thủy này mở lại, các nguồn tin của Reuters cho biết.
Cuối tuần trước, Iran tuyên bố các tàu của Iraq được đi qua Hormuz. Dữ liệu vận tải ngày 5/4 cho thấy một tàu chở dầu thô của Iraq đã đi qua eo biển này.
JPMorgan tuần trước dự báo giá dầu có thể vượt 150 USD một thùng - cao nhất lịch sử, nếu dòng chảy năng lượng qua Hormuz gián đoạn đến giữa tháng 5.
Iran là một trong 22 thành viên của OPEC+. Tổ chức này giảm sản lượng từ 2022 nhằm ngăn dư cung trên thị trường khiến giá giảm. Từ tháng 4/2025, sản xuất của nhóm dần tăng lên, nhằm giành lại thị phần từ các đối thủ, như Mỹ. Tính đến hiện tại, họ tăng sản xuất thêm 2,9 triệu thùng một ngày.
Hội đồng quản trị trình cổ đông kế hoạch doanh thu đạt 315.000 tỉ đồng, tăng 2% so với mức thực hiện năm 2025. Nếu hoàn thành đây sẽ là mức doanh thu cao nhất từ trước tới nay của doanh nghiệp.
Ở chiều ngược lại, tập đoàn đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 3.380 tỉ đồng, giảm 7% so với cùng kỳ.
Sản lượng xăng dầu xuất bán hợp nhất dự kiến đạt khoảng 19,4 triệu m³/tấn (tương đương 19,443 triệu tấn), tăng 10% so với kết quả năm 2025. Tập đoàn dự kiến chi trả cổ tức với tỉ lệ 10%.
Doanh nghiệp khép lại năm 2025 với sản lượng xăng dầu bán ra đạt 17,7 triệu m³/tấn, tăng 2% so với cùng kỳ.
Doanh thu đạt 309.875 tỉ đồng và lợi nhuận hợp nhất trước thuế đạt 3.643 tỉ đồng, lần lượt tăng 25% và 14% so với thực hiện năm 2024. PLX dự kiến sử dụng 1.525 tỉ đồng để trả cổ tức cho cổ đông, tương ứng tỉ lệ 12%.
Trong năm, PLX thí điểm xây dựng mới và cải tạo tổng thể 12 cửa hàng xăng dầu theo mô hình trạm dịch vụ xe tải.
Hệ thống bán lẻ tiếp tục được mở rộng với 76 cửa hàng xăng dầu phát triển mới, nâng tổng số cửa hàng lên 2.831 điểm trên toàn quốc.
Theo Petrolimex, xe điện đã bắt đầu tạo ảnh hưởng rõ nét hơn, song chưa chiếm ưu thế trên thị trường khi số lượng phương tiện sử dụng động cơ đốt trong vẫn ở mức lớn.
Trong kịch bản nền kinh tế vận hành theo định hướng của Chính phủ, Petrolimex dự báo giai đoạn 2026 - 2027, tốc độ tăng trưởng sản lượng có thể dao động trong khoảng 8,5 - 10%.
Động lực chính đến từ các chủ trương, định hướng phát triển của Nhà nước, cùng với việc triển khai các dự án cao tốc mới; đồng thời, nhu cầu của nền kinh tế được kỳ vọng sẽ phần nào bù đắp cho giai đoạn đầu của các chính sách hạn chế phương tiện và sự gia tăng của xe điện.
Bước sang giai đoạn 2028 - 2030, tốc độ tăng trưởng sản lượng có thể chậm lại, ở mức 6 - 7%. Khi đó, tác động từ xe điện, nhiên liệu xanh và các chính sách hạn chế phương tiện được dự báo sẽ thể hiện rõ hơn. Tính chung giai đoạn 2026 - 2030, tập đoàn đặt mục tiêu sản lượng kinh doanh xăng dầu tăng trưởng bình quân khoảng 7%/năm.
Về doanh thu, doanh nghiệp đặt mục tiêu tăng trưởng bình quân giai đoạn 2026 - 2030 không thấp hơn mức tăng sản lượng, dự kiến đạt khoảng 7%/năm. Lợi nhuận trong cùng giai đoạn được kỳ vọng tăng trưởng bình quân 6-7%/năm.
Tỉ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu của công ty mẹ dự kiến duy trì trong khoảng 6-7%/năm; đồng thời, tỷ lệ chi trả cổ tức được đặt mục tiêu bình quân 8-10%/năm.
Cảng quốc tế Chu Lai chính thức đưa vào vận hành hệ thống điện năng lượng mặt trời đầu tiên, từng bước ứng dụng năng lượng sạch trong hoạt động khai thác cảng
Dự án được triển khai theo 3 giai đoạn, với tổng công suất dự kiến đạt 5.100 kWp. Trong đó, giai đoạn 1 được triển khai theo 2 đợt liên tiếp trong năm 2026.
Cụ thể, đợt 1 bắt đầu từ tháng 1-2026 với công suất 700 kWp trên diện tích gần 5.000 m². Tiếp nối, trong tháng 4-2026, cảng triển khai đợt 2 với quy mô mở rộng thêm 800 kWp trên diện tích hơn 7.200 m².
Sau khi hoàn thành cả 2 đợt, tổng công suất giai đoạn 1 đạt 1.500 kWp với khoảng 2.300 tấm pin năng lượng mặt trời, sản lượng điện dự kiến khoảng 2,1 triệu kWh/năm.
Trong các giai đoạn tiếp theo, cảng sẽ tiếp tục đầu tư mở rộng với tổng công suất bổ sung đạt 3.600 kWp (tương đương sản lượng điện khoảng trên 5 triệu kWh/năm), triển khai trên quy mô lớn tại hệ thống kho bãi và hạ tầng hiện hữu.
Khi hoàn thành, tổng công suất điện mặt trời tại Cảng quốc tế Chu Lai đáp ứng toàn bộ nhu cầu cung cấp điện cho hoạt động khai thác, đặc biệt là hệ thống container lạnh và chuỗi logistics nông nghiệp.
Nguồn điện năng lượng mặt trời được sử dụng trong các hoạt động xếp dỡ hàng hóa, lưu kho, bãi tại cảng
Lợi thế lớn để phát triển điện mặt trời
Với tổng diện tích 140 ha, trong đó khu kho bãi chiếm khoảng 20 ha, Cảng quốc tế Chu Lai có lợi thế lớn để phát triển điện mặt trời áp mái. Kết hợp với điều kiện thời tiết khu vực miền Trung có số giờ nắng cao và bức xạ tốt, hệ thống này tạo ra nguồn điện ổn định, giúp duy trì liên tục hoạt động xếp dỡ, lưu trữ hàng hóa, hạn chế rủi ro gián đoạn trong khai thác.
Việc chủ động sử dụng nguồn điện tại chỗ giúp cảng giảm đáng kể chi phí điện năng - một trong những cấu phần chi phí lớn trong khai thác cảng, đặc biệt đối với vận hành container lạnh và hệ thống kho. Qua đó, tạo cơ sở quan trọng để cảng triển khai các chính sách giá linh hoạt và cạnh tranh hơn cho khách hàng.
Cảng quốc tế Chu Lai định hướng duy trì ổn định đơn giá dịch vụ trong dài hạn, hạn chế tối đa tác động từ biến động giá nhiên liệu và giá điện; đồng thời tối ưu chi phí lưu bãi, vận hành container lạnh và dịch vụ logistics liên quan, giúp doanh nghiệp xuất nhập khẩu - đặc biệt trong lĩnh vực nông sản - giảm áp lực chi phí chuỗi cung ứng, gia tăng hiệu quả kinh doanh.
Không chỉ mang lại lợi ích về chi phí, dự án còn góp phần giảm phát thải khí nhà kính, giảm phụ thuộc vào nguồn năng lượng truyền thống và từng bước hiện thực hóa mục tiêu phát triển cảng xanh.
Đây là một trong những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh tổng thể của Cảng quốc tế Chu Lai trong bối cảnh ngành logistics đang chuyển dịch mạnh theo hướng bền vững.
Hệ thống điện năng lượng mặt trời giúp khách hàng tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng
Trong bối cảnh chi phí năng lượng liên tục gia tăng và yêu cầu giảm phát thải ngày càng cao, việc đầu tư hệ thống điện mặt trời không chỉ là giải pháp kỹ thuật mà còn là chiến lược dài hạn, giúp Cảng quốc tế Chu Lai chủ động nguồn lực, đồng hành cùng khách hàng tối ưu chi phí và phát triển bền vững.