Sau sáp nhập với Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu, TP.HCM trở thành “siêu đô thị về giáo dục” với số lượng học sinh sẽ vào học lớp 1, 6, 10 năm học 2026-2027 gần 600.000 em.
Công tác tuyển sinh lớp 1, 6, 10 ở thành phố sau sáp nhập sẽ được thực hiện ra sao? Phụ huynh không muốn cho con học gần nhà mà muốn gần chỗ làm, gần nhà người thân để tiện đưa đón có được không, đăng ký thế nào?
Năm nay các trường “hot” của thành phố tuyển sinh ra sao, cách đăng ký? Chọn nguyện vọng lớp 10 thế nào để “chắc” suất vào công lập?…
Để giải đáp băn khoăn của phụ huynh và học sinh, báo Tuổi Trẻ phối hợp Sở Giáo dục và Đào tạo TP.HCM tổ chức buổi tư vấn trực tuyến “Phụ huynh, học sinh cần chuẩn bị gì cho kỳ tuyển sinh lớp 1, 6, 10 tại TP.HCM?”, từ 9-11h sáng thứ năm ngày 9-4-2026.
Ngay từ bây giờ, phụ huynh, học sinh có thắc mắc có thể gửi câu hỏi về chương trình ở ô bên dưới đến các khách mời:
– Ông Nguyễn Văn Phong, Phó giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo TP.HCM.
– Ông Nguyễn Võ Đăng Khoa, Phó trưởng Phòng quản lý chất lượng, Sở Giáo dục và Đào tạo TP.HCM.
– Ông Trịnh Đình Thảo, Phó hiệu trưởng Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa, TP.HCM.
– Ông Cao Quảng Tư, Giám đốc tuyển sinh hệ thống Trường Quốc tế Á Châu, TP.HCM.
– Ông Mai Đức Thắng, Hiệu trưởng Trường TH, THCS và THPT Hoàng Gia (Royal School), TP.HCM.
Câu trả lời sẽ được cập nhật trên Tuổi Trẻ Online (tuoitre.vn) từ 9-11h sáng thứ năm ngày 9-4-2026, mời bạn đọc đón xem.

Trong đó, 119 trường THPT công lập không chuyên tuyển hơn 78.300 học sinh, trường chất lượng cao Phan Huy Chú - Đống Đa tuyển 400 em, 4 trường chuyên lấy hơn 2.700.
Tổng chỉ tiêu gần như tương đương năm ngoái, nhưng năm nay thủ đô có khoảng 147.000 học sinh tốt nghiệp THCS, tăng chừng 20.000 em. Vì thế, chỉ khoảng 55% có suất học lớp 10 công lập, thấp hơn gần 10%.
Con số này dự kiến tăng nhẹ khi một số trường dự kiến hoạt động từ năm tới chưa được giao chỉ tiêu, gồm THPT Hoàng Quán Chi (phường Yên Hòa), Vĩnh Hưng (phường Vĩnh Hưng), Việt Hùng (xã Đông Anh).
Chỉ tiêu lớp 10 của 119 trường THPT ở Hà Nội năm 2026 như sau:
TT
Trường
Chỉ tiêu 2026
Chỉ tiêu 2025
Tăng/giảm
1
THPT Phan Đình Phùng
720
720
0
2
THPT Phạm Hồng Thái
585
720
-135
3
THPT Nguyễn Trãi - Ba Đình
688
765
-77
4
THPT Tây Hồ
765
765
0
5
THPT Trần Phú
765
765
0
6
THPT Việt Đức
945
945
0
7
THPT Thăng Long
720
675
45
8
THPT Trần Nhân Tông
720
720
0
9
THPT Đoàn Kết - Hai Bà Trưng
675
675
0
10
THPT Đống Đa
675
720
-45
11
THPT Hoàng Cầu
540
-
-
12
THPT Kim Liên
765
765
0
13
THPT Lê Quý Đôn - Đống Đa
675
720
-45
14
THPT Quang Trung - Đống Đa
675
675
0
15
THPT Nhân Chính
585
585
0
16
Trần Hưng Đạo - Thanh Xuân
675
765
-90
17
THPT Khương Đình
675
765
-90
18
THPT Khương Hạ
450
400
50
19
THPT Cầu Giấy
720
720
0
20
THPT Yên Hòa
765
765
0
21
THPT Hoàng Văn Thụ
765
765
0
22
THPT Trương Định
675
675
0
23
THPT Việt Nam - Ba Lan
720
765
-45
24
THPT Đỗ Mười
675
-
-
25
THPT Ngô Thì Nhậm
720
675
45
26
THPT Ngọc Hồi
675
675
0
27
THPT Đông Mỹ
675
765
-90
28
THPT Nguyễn Quốc Trinh
765
720
45
29
THPT Nguyễn Gia Thiều
720
675
45
30
THPT Lý Thường Kiệt
675
675
0
31
THPT Thạch Bàn
765
765
0
32
THPT Phúc Lợi
765
765
0
33
THPT Cao Bá Quát - Gia Lâm
765
765
0
34
THPT Dương Xá
720
720
0
35
THPT Nguyễn Văn Cừ
765
720
45
36
THPT Yên Viên
720
720
0
37
THPT Đa Phúc
765
675
90
38
THPT Kim Anh
675
675
0
39
THPT Minh Phú
585
585
0
40
THPT Sóc Sơn
765
675
90
41
THPT Trung Giã
675
630
45
42
THPT Xuân Giang
630
630
0
43
THPT Bắc Thăng Long
720
675
45
44
THPT Cổ Loa
675
765
-90
45
THPT Đông Anh
675
720
-45
46
THPT Liên Hà
675
675
0
47
THPT Vân Nội
765
720
45
48
THPT Phúc Thịnh
675
-
-
49
THPT Mê Linh
540
630
-90
50
THPT Quang Minh
450
540
-90
51
THPT Tiền Phong
585
495
90
52
THPT Tiến Thịnh
540
495
45
53
THPT Tự Lập
540
540
0
54
THPT Yên Lãng
585
495
90
55
THPT Nguyễn Thị Minh Khai
675
765
-90
56
THPT Xuân Đỉnh
675
765
-90
57
THPT Thượng Cát
540
585
-45
58
THPT Đại Mỗ
720
720
0
59
THPT Trung Văn
585
520
65
60
THPT Xuân Phương
675
765
-90
61
THPT Mỹ Đình
765
765
0
62
THPT Hoài Đức A
630
720
-90
63
THPT Hoài Đức B
720
720
0
64
THPT Vạn Xuân - Hoài Đức
675
675
0
65
THT Hoài Đức C
585
540
45
66
THPT Đan Phượng
675
675
0
67
THPT Hồng Thái
630
585
45
68
THPT Tân Lập
675
630
45
69
THPT Thọ Xuân
540
540
0
70
THPT Ngọc Tảo
765
720
45
71
THPT Phúc Thọ
675
720
-45
72
THPT Vân Cốc
585
585
0
73
THPT Tùng Thiện
765
765
0
74
THPT Xuân Khanh
675
630
45
75
THPT Ba Vì
630
630
0
76
THPT Bất Bạt
450
450
0
77
Phổ thông Dân tộc nội trú
140
140
0
78
THPT Ngô Quyền - Ba Vì
675
675
0
79
THPT Quảng Oai
675
675
0
80
THPT Minh Quang
540
540
0
81
THPT Bắc Lương Sơn
540
495
45
82
Hai Bà Trưng - Thạch Thất
675
675
0
83
Phùng Khắc Khoan - Thạch Thất
675
540
135
84
THPT Thạch Thất
765
675
90
85
THPT Minh Hà
450
450
0
86
THPT Cao Bá Quát - Quốc Oai
585
585
0
87
THPT Minh Khai
675
675
0
88
THPT Quốc Oai
675
675
0
89
THPT Phan Huy Chú - Quốc Oai
720
720
0
90
THPT Lê Quý Đôn - Hà Đông
765
765
0
91
THPT Quang Trung - Hà Đông
765
720
45
92
THPT Trần Hưng Đạo - Hà Đông
720
720
0
93
THPT Lê Lợi
720
-
-
94
THPT Chúc Động
675
765
-90
95
THPT Chương Mỹ A
675
720
-45
96
THPT Chương Mỹ B
720
720
0
97
THPT Xuân Mai
675
765
-90
98
THPT Nguyễn Văn Trỗi
720
720
0
99
THPT Nguyễn Du - Thanh Oai
675
765
-90
100
THPT Thanh Oai A
720
720
0
101
THPT Thanh Oai B
720
720
0
102
THPT Thường Tín
675
675
0
103
THPT Nguyễn Trãi - Thường Tín
540
630
-90
104
THPT Lý Tử Tấn
585
585
0
105
THPT Tô Hiệu - Thường Tín
585
630
-45
106
THPT Vân Tảo
630
585
45
107
THPT Đồng Quan
585
585
0
108
THPT Phú Xuyên A
675
675
0
109
THPT Phú Xuyên B
675
630
45
110
THPT Tân Dân
495
495
0
111
THPT Hợp Thanh
585
495
90
112
THPT Mỹ Đức A
720
675
45
113
THPT Mỹ Đức B
585
585
0
114
THPT Mỹ Đức C
675
585
90
115
THPT Đại Cường
450
450
0
116
THPT Lưu Hoàng
585
495
90
117
THPT Trần Đăng Ninh
585
540
45
118
THPT Ứng Hòa A
585
585
0
119
THPT Ứng Hòa B
585
540
45
Trong 119 trường THPT, hơn 30 trường tăng chỉ tiêu, phổ biến 45-90 học sinh, hơn 20 trường giảm, còn đa số ổn định.
THPT Phùng Khắc Khoan - Thạch Thất tăng 135 học sinh, trong khi THPT Phạm Hồng Thái giảm tương đương. Đây là hai trường có biến động chỉ tiêu nhiều nhất.
Với hệ chuyên, cả 4 trường đều giữ ổn định số lớp và chỉ tiêu như năm ngoái, tổng 2.730. Cụ thể, trường chuyên Hà Nội - Amsterdam tuyển 840 học sinh, chuyên Chu Văn An 665, chuyên Nguyễn Huệ 700 và chuyên Sơn Tây 525.
Chi tiết chỉ tiêu lớp 10 chuyên ở Hà Nội năm 2026
Thí sinh đang trong giai đoạn tập dượt đăng ký thi lớp 10 trực tuyến, trước khi đăng ký chính thức vào 10-17/4. Năm nay, các em có thể nhìn thấy số lượng nguyện vọng 1, 2 và 3 đặt vào từng trường theo thời gian thực, từ đó tính được tỷ lệ chọi.
Kỳ thi diễn ra ngày 30-31/5, thí sinh đăng ký trường chuyên sẽ thi thêm môn chuyên vào ngày 1/6. Dự kiến từ ngày 19 đến 22/6, Sở sẽ công bố điểm thi, điểm chuẩn lớp 10.
Thanh Hằng
Nguồn: https://vnexpress.net/chi-tieu-lop-10-tat-ca-truong-thpt-cong-lap-ha-noi-2026-5058617.html
Giáo Dục
Lần đầu tiên ở Việt Nam, xã cung cấp miễn phí sách giáo khoa cho học sinh

Ngày 10.4, UBND xã Hòa Vang (thành phố Đà Nẵng) công bố triển khai chính sách cung cấp sách giáo khoa miễn phí cho toàn bộ học sinh trên địa bàn, từ bậc tiểu học đến THPT, bắt đầu từ năm học 2026 - 2027. Đây là địa phương đầu tiên trong cả nước hiện thực hóa chủ trương lớn của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo theo Nghị quyết số 71-NQ/TW.
Chính sách này mang ý nghĩa hỗ trợ thiết thực cho hàng nghìn gia đình, thể hiện cách làm chủ động, sáng tạo của chính quyền địa phương trong việc đưa nghị quyết vào cuộc sống một cách nhanh chóng và hiệu quả.
Theo kế hoạch, hơn 7.000 học sinh tại các trường trên địa bàn xã Hòa Vang sẽ được cấp sách giáo khoa miễn phí.
Trước đó, xã Hòa Vang đã triển khai mô hình “Tủ sách giáo khoa dùng chung” nhằm huy động nguồn lực xã hội, khuyến khích tinh thần tiết kiệm và chống lãng phí. Từ mô hình này, hàng chục ngàn lượt mượn sách đã được ghi nhận, góp phần giảm đáng kể chi phí học tập cho phụ huynh.
Ông Lê Phú Nguyện, Chủ tịch UBND xã Hòa Vang, cho biết việc triển khai chính sách là bước tiến quan trọng, giúp địa phương hoàn thành mục tiêu cung cấp sách giáo khoa miễn phí sớm hơn 4 năm so với yêu cầu của Nghị quyết số 71-NQ/TW. Đồng thời, ông Nguyện cũng nhấn mạnh vai trò của nhà trường, giáo viên, phụ huynh và học sinh trong việc giữ gìn, bảo quản sách để mô hình được duy trì bền vững.
Theo ông Nguyện, giai đoạn đầu, xã huy động 551 triệu đồng mua hơn 6.000 sách giáo khoa cho hơn 1.200 học sinh 8 thôn vùng đồi núi (thuộc xã Hòa Phú cũ), ưu tiên đối tượng khó khăn, đáp ứng khoảng 31% nhu cầu năm học 2025 - 2026.
Sau khi có Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị và bộ sách "Kết nối tri thức" được thống nhất toàn quốc, xã Hòa Vang tiếp tục huy động gần 1,5 tỉ đồng, bổ sung 74.676 quyển. Đến nay, tổng số 91.060 quyển sách đã đủ phục vụ miễn phí gần 7.000 học sinh tại 6 cơ sở giáo dục.
Dự kiến từ năm học 2026 – 2027, địa phương sẽ đáp ứng 100% nhu cầu, trở thành nơi đầu tiên trong cả nước thực hiện miễn phí sách giáo khoa sớm hơn 3 năm.
Ông Trần Anh Tuấn, Phó chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng, đánh giá cao nỗ lực của địa phương, đồng thời đề nghị cần xây dựng quy chuẩn cụ thể trong việc quản lý, sử dụng sách nhằm đảm bảo hiệu quả lâu dài.
Ông Trần Anh Tuấn, Phó chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng, đánh giá mô hình tại xã Hòa Vang là bước cụ thể hóa Nghị quyết số 71-NQ/TW, vừa nâng cao giáo dục, vừa bảo đảm an sinh cho học sinh ở các khu vực còn khó khăn sau sáp nhập.
"Chỉ trong thời gian ngắn, mô hình đã phát huy hiệu quả, trở thành điểm sáng để thành phố nghiên cứu nhân rộng", ông Trần Anh Tuấn nói.
Ông Nguyễn Mạnh Hùng, đại diện Hội phụ huynh Trường tiểu học An Phước (xã Hòa Vang), chia sẻ: "Chúng tôi rất phấn khởi khi con em mình được hỗ trợ sách giáo khoa miễn phí. Đây là chính sách rất nhân văn, giúp giảm bớt gánh nặng chi phí đầu năm học. Không chỉ vậy, mô hình "Tủ sách giáo khoa dùng chung" còn giúp các cháu hình thành ý thức giữ gìn tài sản chung, biết trân trọng sách vở hơn. Phụ huynh chúng tôi sẵn sàng phối hợp cùng nhà trường để nhắc nhở các cháu sử dụng sách cẩn thận, góp phần duy trì mô hình lâu dài".
Ở góc nhìn học sinh, em Nguyễn Thị Hà Lan (lớp 7/1, Trường THCS Ông Ích Đường, xã Hòa Vang) bày tỏ sự hào hứng: “Em cảm thấy rất vui vì từ năm sau sẽ được mượn sách giáo khoa miễn phí. Điều này giúp bố mẹ em đỡ vất vả hơn mỗi khi vào năm học mới. Em và các bạn sẽ cố gắng giữ gìn sách thật cẩn thận để các anh chị, các em khóa sau cũng có thể sử dụng. Em nghĩ đây là việc làm rất ý nghĩa và giúp chúng em ý thức hơn trong việc tiết kiệm".
Giáo Dục
Đề xuất tăng lương giáo viên mầm non, kéo dài nghỉ thai sản lên 12 tháng

Hàng triệu lao động nữ phụ thuộc vào dịch vụ chăm sóc trẻ
Ngày 3/4, tại hội thảo “Hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục mầm non” do Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam phối hợp với Vụ Giáo dục Mầm non và Ngân hàng Thế giới tổ chức, các chuyên gia đã đưa ra loạt khuyến nghị đáng chú ý.
Trình bày báo cáo tại hội thảo, bà Helle Buchhave, Trưởng nhóm toàn cầu về giới của Ngân hàng Thế giới, cho biết Việt Nam hiện có khoảng 4,8 triệu lao động nữ trong lĩnh vực sản xuất tại các khu công nghiệp, tương đương 19% số lao động nữ. Đây là nhóm chịu tác động trực tiếp từ sự thiếu hụt dịch vụ chăm sóc trẻ.
Dữ liệu cho thấy nhu cầu gửi trẻ, đặc biệt dưới 3 tuổi, đang rất lớn nhưng chưa được đáp ứng. Có tới 75% bà mẹ có con dưới 2 tuổi chưa sử dụng dịch vụ chăm sóc trẻ, dù sẵn sàng sử dụng nếu có dịch vụ phù hợp với chi phí hợp lý.
Trong khi đó, hệ thống công lập còn hạn chế, chỉ 23% cơ sở nhận trẻ dưới 2 tuổi. Ở khu vực ngoài công lập, nhiều cơ sở gặp khó khăn về nhân lực đạt chuẩn, nguồn lực tài chính và tiếp cận chính sách hỗ trợ.
Các chuyên gia nhấn mạnh, đầu tư vào giáo dục mầm non không chỉ là chính sách xã hội mà còn mang lại lợi ích kinh tế rõ rệt. Ước tính, việc phổ cập dịch vụ chăm sóc trẻ có thể mang lại tổng lợi ích kinh tế lên tới 3,02 tỷ USD, thông qua việc tăng tỷ lệ tham gia lao động của phụ nữ và nâng cao năng suất.
Bàn giải pháp nâng chất giáo dục mầm non ở địa bàn có khu công nghiệp
Trưởng nhóm toàn cầu về giới của Ngân hàng Thế giới nhấn mạnh Việt Nam cần những điều chỉnh chính sách mạnh mẽ để giải quyết “điểm nghẽn” trong hệ thống chăm sóc trẻ nhỏ, đặc biệt tại khu đô thị và khu công nghiệp.
Báo cáo của Ngân hàng Thế giới đưa ra 3 nhóm giải pháp lớn. Một trong những giải pháp quan trọng là cải thiện chế độ cho đội ngũ giáo viên mầm non. Mức hỗ trợ hiện nay còn thấp, khiến thu nhập của giáo viên, đặc biệt ở khu vực ngoài công lập còn hạn chế.
Vì vậy, cần xây dựng chính sách tiền lương ở tầm quốc gia, đồng thời tăng lương theo lộ trình gắn với trình độ chuyên môn.
Đồng thời, cần tăng nguồn cung dịch vụ với chi phí hợp lý, trong đó nhấn mạnh mở rộng hệ thống mầm non công lập, đặc biệt cho trẻ dưới 3 tuổi; đồng thời cải cách mô hình hợp tác công – tư (PPP), giảm rào cản để thu hút các nhà đầu tư.
Đáng chú ý, chuyên gia Ngân hàng Thế giới cũng đề xuất điều chỉnh chính sách lao động theo hướng thân thiện hơn với gia đình, trong đó có việc kéo dài thời gian nghỉ thai sản lên 12 tháng. Phương án được đưa ra là mỗi phụ huynh nghỉ 6 tháng, nhằm san sẻ trách nhiệm chăm sóc con nhỏ.
Bà Buchhave chỉ ra khoảng trống lớn hiện nay: sau 6 tháng nghỉ thai sản, nhiều gia đình không có nơi gửi trẻ do phần lớn cơ sở mầm non công lập chưa nhận trẻ dưới 12 tháng tuổi. Điều này khiến không ít phụ nữ buộc phải rời bỏ thị trường lao động hoặc chấp nhận những lựa chọn không bền vững.
“Khung chính sách của Việt Nam đã có đủ các cam kết cần thiết để hành động”, bà nhấn mạnh.
Tuy nhiên, chuyên gia của Ngân hàng Thế giới cũng cho biết đây là những chiến lược dài hạn. Tuy nhiên, bà cũng chỉ ra một số hành động cần thực hiện trong ngắn hạn như: Tăng số lượng chỗ học cho trẻ dưới 3 tuổi tại cơ sở mầm non công lập, nới lỏng trần biên chế, kéo dài giờ hoạt động ở trường, loại bỏ rào cản hành chính đối với người di cư, đồng bộ chính sách chăm sóc trẻ em với chính sách nghỉ phép của cha mẹ và làm việc linh hoạt…
Áp lực lớn tại các đô thị, khu công nghiệp
Tại hội thảo, bà Lê Thuỵ Mỵ Châu, Phó Giám đốc Sở GD&ĐT TPHCM, cho biết thành phố hiện có hơn 1.800 cơ sở mầm non với trên 520.000 trẻ, hơn 47.000 giáo viên, cán bộ quản lý - quy mô lớn nhất cả nước. Tuy nhiên, áp lực về chỗ học, đặc biệt cho con em công nhân và lao động nhập cư, vẫn rất lớn.
Nhiều mô hình linh hoạt đã được triển khai như giữ trẻ ngoài giờ, trường do doanh nghiệp đầu tư hay cơ sở mầm non tại khu lưu trú công nhân, ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động, quản lý. Dù vậy, bài toán về nguồn lực, quy hoạch và chất lượng vẫn còn nhiều thách thức.
Ở góc độ quản lý, bà Hoàng Thị Dinh, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Mầm non, Bộ GD&ĐT, nhấn mạnh sự cần thiết của việc triển khai đồng bộ chương trình quốc gia, đặc biệt tại các địa phương có khu công nghiệp lớn.
Bà cho rằng cần tăng cường phân cấp, trao quyền cho địa phương trong việc tham mưu và triển khai giải pháp phù hợp với thực tiễn.
Đồng thời, các địa phương cần chú trọng mở rộng quy mô, tăng tỷ lệ trẻ đến trường, nhất là nhóm trẻ nhà trẻ, vốn còn nhiều hạn chế so với bậc mẫu giáo.
Đại diện Bộ GD&ĐT cho biết đang triển khai chương trình nâng cao chất lượng giáo dục mầm non tại khu đô thị, khu công nghiệp, với mục tiêu đến năm 2035, 100% trẻ từ 6 đến 36 tháng tuổi là con công nhân, người lao động có nhu cầu sẽ được đến trường.
Theo GS.TS Lê Anh Vinh, Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, giáo dục mầm non cần được nhìn nhận không chỉ là lĩnh vực giáo dục mà còn là câu chuyện chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ trẻ trong những năm đầu đời.
Theo ông Vinh, đây là giai đoạn nền tảng có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của mỗi con người. Những gì trẻ được tiếp cận trong giai đoạn này sẽ ảnh hưởng lâu dài đến kết quả học tập, khả năng học tập suốt đời và năng suất lao động khi trưởng thành.
"Giáo dục mầm non phải là câu chuyện của tiếp cận sớm, cơ hội sớm và đầu tư sớm, không chỉ trong ngành giáo dục mà trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế - xã hội", ông Vinh nhấn mạnh.

