Một số hộ kinh doanh trước đây tự xác định doanh thu và nộp thuế khoán ở mức thấp, sau khi áp dụng hình thức hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền từ ngày 1-1-2026 thì doanh thu phát sinh cao hơn rất nhiều so với thời điểm liền kề trước đó.
Trong tình huống đó nhiều người lo ngại cơ quan thuế sẽ xem xét lại mức thuế khoán của những năm trước và truy thu tiền thuế chênh lệch.
Câu trả lời là tại khoản 5 Điều 17 Nghị định 68 năm 2026 về chính sách thuế và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.
Theo đó hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán từ năm 2025 trở về trước và đã được xác định mức thuế khoán khi chuyển sang kê khai thuế từ ngày 1-1-2026, cơ quan thuế không sử dụng doanh thu khai thuế năm 2026 để xác định lại nghĩa vụ thuế các năm trước, không xử phạt vi phạm hành chính đối với các nghĩa vụ thuế đã thực hiện theo phương pháp khoán.
Quy định này loại trừ trường hợp cơ quan thuế và các cơ quan có thẩm quyền khác phát hiện hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh đã che giấu doanh thu dẫn đến thiếu số thuế phải nộp.
Tuy nhiên cần hiểu thế nào cho đúng về việc cơ quan thuế không sử dụng doanh thu khai thuế năm 2026 để xác định lại nghĩa vụ thuế các năm trước, không xử phạt vi phạm hành chính đối với các nghĩa vụ thuế đã thực hiện theo phương pháp khoán.
Từ ngày 1-1-2026, hộ kinh doanh không còn áp dụng phương pháp thuế khoán theo chủ trương tại Nghị quyết 198 năm 2025 của Quốc hội.
Đây cũng là nền tảng để Nhà nước ban hành Nghị định 68 nhằm thiết kế lại cơ chế quản lý thuế theo hướng hộ kinh doanh vừa có quyền tự xác định doanh thu thực tế nhưng vẫn phải chịu sự giám sát, kê khai và xuất hóa đơn điện tử tùy trường hợp.
Đối với các hộ kinh doanh áp dụng theo hình thức hóa đơn điện tử sẽ có tình huống là số doanh thu hiện tại chênh lệch rất lớn so với doanh thu năm liền kề trước đó đã khai báo. Sự chênh lệch này khiến nhiều người sợ rằng cơ quan thuế sẽ lấy doanh thu năm 2026 làm cơ sở xác định và truy lại nghĩa vụ thuế của các năm trước.
Khoản 5 Điều 17 Nghị định 68 là cơ quan thuế không sử dụng doanh thu khai thuế năm 2026 để xác định lại nghĩa vụ thuế các năm trước, không xử phạt vi phạm hành chính đối với các nghĩa vụ thuế đã thực hiện theo phương pháp khoán.
Như vậy quy định trên không tư duy theo hướng doanh thu năm 2026 cao thì các năm trước cũng phải tương tự như vậy. Đây là hướng xây dựng pháp luật phù hợp với kinh tế thị trường và mang tính logic cao, vì không có mối quan hệ cho thấy doanh thu hằng năm buộc phải có tính kế thừa.
Trong hoạt động kinh doanh sẽ có những thời điểm thuận lợi và không thuận lợi. Thậm chí, Cục Thuế xây dựng hệ thống quản lý thuế sẽ tự động gợi ý hồ sơ khai trên cơ sở dữ liệu hóa đơn điện tử, dữ liệu quản lý thuế và nhiều nguồn dữ liệu khác mà cơ quan thuế có được. Tức là quản lý ngày càng dựa vào dữ liệu, chứ không chỉ cảm tính.
Tuy nhiên nếu chỉ đọc đến đây mà kết luận các cơ quan chức năng sẽ hoàn toàn không truy thu ngược lại trước năm 2026 thì không chính xác. Vì tiếp đó là quy định loại trừ.
Vậy các hộ kinh doanh cần hiểu thật sát nghĩa của tinh thần của pháp luật trong trường hợp này theo hướng, nếu có chứng cứ độc lập cho thấy trước đây người nộp thuế có hành vi cố tình giấu doanh thu dẫn đến giảm số thuế phải nộp thì việc truy thu vẫn được xác định theo quy định pháp luật.
Ví dụ đối với hộ kinh doanh từng tham gia bán hàng trên các sàn thương mại điện tử thì chủ sở hữu sàn thương mại điện tử đã cung cấp cho cơ quan thuế thông tin của người bán, bao gồm tên, mã số thuế hoặc số định danh, địa chỉ, số điện thoại liên lạc và đặc biệt là doanh thu bán hàng thông qua chức năng đặt hàng trực tuyến của sàn.
Việc cung cấp này được thực hiện định kỳ hằng quý bằng phương thức điện tử qua cổng thông tin của cơ quan thuế.
Các chủ sở hữu sàn thương mại điện tử cũng phải khấu trừ, nộp thay thuế đối với từng giao dịch phát sinh doanh thu theo tỉ lệ trên doanh thu của giao dịch đó. Hộ kinh doanh trên các nền tảng này phải cung cấp đầy đủ thông tin định danh, thông tin bắt buộc của người bán và tài liệu liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế.
Nếu cơ quan thuế xác định hộ kinh doanh A tự khai (để xác định thuế) của năm 2025 chênh lệch lớn so doanh thu do chủ sở hữu sàn thương mại điện tử cung cấp thì sẽ xem xét rà soát và xử lý hành vi che giấu doanh thu dẫn đến thiếu số thuế phải nộp.
Báo cáo từ Vietnam Report vừa công bố mới đây đã cho thấy từ chi phí logistics "ăn mòn" lợi nhuận đến các vụ kiện phòng vệ thương mại đang buộc doanh nghiệp vật liệu xây dựng phải thay đổi tư duy quản trị.
Ngành vật liệu xuất khẩu đang đối mặt với một thực trạng đầy trớ trêu khi hàng hóa làm ra nhiều nhưng không thể vận chuyển hoặc vận chuyển với chi phí không tưởng. Theo số liệu, xuất khẩu xi măng và clinker đạt hơn 37,3 triệu tấn (tương đương 1,3 tỉ USD, tăng 25,6% về khối lượng).
Trong khi nhóm sản phẩm gỗ và nội thất cũng đạt kim ngạch hàng tỉ USD. Tuy nhiên, niềm vui tăng trưởng không trọn vẹn khi "mưa tên lửa" địa chính trị tại Trung Đông đang làm đứt gãy các tuyến hàng hải huyết mạch.
Đặc biệt tại khu vực eo biển Hormuz, việc các hãng tàu phải đi vòng và áp thêm phụ phí chiến tranh đã đẩy chi phí logistics lên mức phi lý. Đối với các mặt hàng có khối lượng lớn nhưng giá trị đơn vị thấp như xi măng, đá xây dựng hay bê tông, đây là một "đòn chí mạng".
Theo phân tích của các chuyên gia, trước đây giá một tấn xi măng tại cảng Việt Nam khoảng 41 - 42 USD, nhưng nếu giá cước vận tải sang Trung Đông đội lên mức 60 USD/tấn, thì chi phí vận chuyển đã cao hơn cả giá trị thực của hàng hóa. Đối với mặt hàng đá xây dựng, tiền cước thậm chí có thể cao gấp hàng chục lần giá trị sản phẩm, khiến chuỗi cung ứng có nguy cơ bị dừng lại ngay lập tức do không còn hiệu quả kinh tế.
Không chỉ khó ở khâu vận chuyển, hàng vật liệu xây dựng Việt Nam còn vấp phải các rào cản pháp lý khắt khe. Điển hình là vụ việc Mỹ áp thuế chống bán phá giá sơ bộ đối với thép cốt bê tông Việt Nam với mức thuế rất cao, từ 122% đến hơn 130%. Con số này cao hơn gấp nhiều lần so với các quốc gia khác cùng bị điều tra như Ai Cập (34% - gần 53%) hay Bulgaria khoảng 52,8%.
Sự gia tăng đột biến của lượng thép xuất khẩu sang Mỹ (từ 43 tấn năm 2022 lên 56.400 tấn năm 2024) đã khiến các cơ quan quản lý sở tại siết chặt các biện pháp phòng vệ để bảo vệ sản xuất nội địa. Đây là bài học đắt giá về việc mở rộng quy mô quá nhanh mà thiếu các chiến lược phòng vệ và đa dạng hóa thị trường bền vững.
Phương pháp ứng phó: chuyển đổi số và xanh hóa là bắt buộc
Trước những "cơn sóng" dữ mà thị trường toàn cầu đang phải đón nhận, các doanh nghiệp vật liệu xây dựng đang buộc phải tái định hình chiến lược. Trong đó, xu hướng nổi bật là chuyển dịch từ mô hình tăng trưởng dựa trên quy mô sang mô hình dựa trên hiệu quả và công nghệ.
Khảo sát cho thấy một con số ấn tượng khi 100% doanh nghiệp tham gia khảo sát cho biết đang triển khai chuyển đổi số. Trong đó, 22,4% đã hoàn thành và bước sang giai đoạn tối ưu hóa, tích hợp công nghệ toàn diện vào vận hành.
Việc 88,9% doanh nghiệp dự kiến tăng đầu tư vào công nghệ trong năm 2026 cho thấy chuyển đổi số đã trở thành nền tảng sống còn để quản trị chi phí và dữ liệu.
Một giải pháp hữu hiệu, bền vững hơn nữa là theo đuổi và tuân thủ tiêu chuẩn ESG, xem đây như là "tấm vé thông hành". Phát triển bền vững không còn là khẩu hiệu xa vời. Bởi có tới 92,3% doanh nghiệp xác định ESG (môi trường - xã hội - quản trị) là ưu tiên chiến lược.
Với một ngành tiêu thụ nhiều năng lượng và tài nguyên, việc đáp ứng các tiêu chuẩn xanh và minh bạch thông tin là điều kiện tiên quyết để tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu và vượt qua các rào cản kỹ thuật tại các thị trường khó tính.
Trao đổi với Tuổi Trẻ Online, ông Đinh Hồng Kỳ, Chủ tịch Hiệp hội Xây dựng và Vật liệu xây dựng TP.HCM (SACA) nhận định ngành vật liệu xây dựng Việt Nam đang đứng trước một cuộc sát hạch gắt gao. Những doanh nghiệp có khả năng tối ưu hóa chuỗi cung ứng, chủ động ứng phó với các biện pháp phòng vệ thương mại và mạnh dạn đầu tư vào công nghệ xanh sẽ là những cái tên trụ vững qua "cơn bão" địa chính trị và kinh tế toàn cầu hiện nay.
Trong tài liệu họp cổ đông thường niên cuối tháng này, Hội đồng quản trị Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) nhận định năm nay "có nhiều khó khăn, thách thức hơn thuận lợi". Do đó, doanh nghiệp đặt mục tiêu doanh thu tăng 2%, lên 315.000 tỷ đồng; còn lợi nhuận sau thuế dự kiến giảm 7%, xuống 3.380 tỷ đồng - mức thấp nhất bốn năm qua.
Theo ban lãnh đạo Petrolimex, sản lượng tiêu thụ năm nay và năm sau dự kiến tăng 8,5-10%. Xe điện bắt đầu tác động rõ hơn nhưng chưa chiếm lĩnh thị trường, do số lượng phương tiện động cơ đốt trong vẫn rất lớn. Kế hoạch hạn chế xe xăng vào nội đô từ năm sau sẽ ảnh hưởng đến sản lượng tại các thành phố lớn.
Sang giai đoạn 2028-2030, sản lượng bán xăng dầu truyền thống có thể đạt đỉnh hoặc bắt đầu đi ngang. Doanh nghiệp dự đoán khi đó tác động của xe điện, nhiên liệu xanh và chính sách hạn chế phương tiện rõ nét hơn.
Cụ thể, giá xe điện có thể giảm, hạ tầng sạc và các chính sách khuyến khích phát huy hiệu quả. Việc hạn chế phương tiện sử dụng xăng dầu ở các thành phố lớn cũng được thực thi đầy đủ hơn, gây áp lực lên sản lượng bán hàng tại những khu vực này.
Các dự án phát triển mạng lưới cao tốc, tăng trưởng kinh tế và nhu cầu vận tải hàng hóa được doanh nghiệp kỳ vọng bù đắp một phần sự sụt giảm sản lượng.
Trong báo cáo tài chính kiểm toán, ban lãnh đạo Petrolimex cho biết xung đột Trung Đông cũng gây ảnh hưởng bất lợi đến môi trường kinh doanh bình thường. Do phụ thuộc lớn vào nguồn dầu từ Trung Đông nên từ khi xung đột xảy ra, giá thế giới đã tăng mạnh, đặc biệt đối với dầu DO. Chi phí vận chuyển quốc tế cũng tăng theo giá nhiên liệu, cộng thêm mức phụ phí vận tải tăng bất thường.
5 năm tới, Petrolimex đặt mục tiêu tăng trưởng doanh thu bình quân không thấp hơn tăng trưởng sản lượng, dự kiến đạt 7% mỗi năm. Lợi nhuận kỳ vọng tăng 6-7% mỗi năm, còn cổ tức bình quân đạt 8-10%.
Petrolimex là nhà bán lẻ xăng dầu lớn nhất Việt Nam. Doanh nghiệp ước tính chiếm 50% thị phần tính theo sản lượng xuất bán và có mạng lưới 5.500 cửa hàng xăng dầu khắp cả nước. Năm ngoái, doanh thu tăng hơn 9% lên xấp xỉ 310.000 tỷ đồng, nhưng lãi trước thuế giảm khoảng 8% còn 3.643 tỷ đồng.
Trên sàn chứng khoán, cổ phiếu Petrolimex đang ở vùng giá 39.000 đồng, tăng khoảng 10% so với đầu năm.
Đăng ký bảo hộ thương hiệu ở Ý: một tháng có chứng chỉ, Nhà nước hoàn lại gần như toàn bộ phí. Ở Việt Nam: đóng tiền trước, chờ đến một năm, kết quả vẫn là ẩn số. Khoảng cách đó không chỉ là thủ tục - đó là khoảng cách tư duy mà doanh nghiệp Việt cần đối mặt thực sự.
Thương hiệu là tài sản lớn nhất của doanh nghiệp, nhưng cũng là thứ dễ mất nhất nếu thiếu "tấm khiên" pháp lý. Nghịch lý là nhiều doanh nghiệp sẵn sàng chi hàng trăm triệu cho marketing, nhưng lại ngần ngại hoặc chưa biết cách bảo vệ chính cái tên mình đang quảng bá.
Bài viết dưới đây là góc nhìn từ thực chiến của một doanh nhân với 21 năm kinh nghiệm quản trị tại các tập đoàn lớn ở Mỹ, Úc, Nhật và gần 8 năm điều hành doanh nghiệp tại cả Ý lẫn Việt Nam - người đã trực tiếp đăng ký bảo hộ hơn 10 thương hiệu ở hai thị trường này.
Tại Ý và khối EU, quy trình bảo hộ thương hiệu được tối ưu hóa để triệt tiêu rủi ro ngay từ bước phác thảo. Ngay trong giai đoạn thiết kế bộ nhận diện, các đơn vị sáng tạo đã có thể truy cập hệ thống dữ liệu mở để kiểm tra khả năng trùng lặp - giúp doanh nghiệp tránh đầu tư hàng trăm triệu vào marketing cho một cái tên hay logo không thể bảo hộ.
Sau khi nộp hồ sơ, chỉ khoảng một tháng là doanh nghiệp nhận được chứng chỉ kèm mã QR bảo hộ. Điểm đặc biệt: chứng chỉ được cấp trước, doanh nghiệp mới thanh toán phí sau - hoàn toàn đảo ngược so với cách tiếp cận thông thường. Minh bạch đến vậy, doanh nghiệp đủ tự tin tung sản phẩm ra thị trường mà không lo tranh chấp.
Thêm vào đó, trong 2 - 3 năm gần đây, Chính phủ Ý gần như hoàn lại 100% phí bảo hộ cho thương hiệu mới. Đây là thông điệp rõ ràng: Nhà nước đồng hành cùng giá trị trí tuệ của doanh nghiệp.
Tại Việt Nam, bức tranh khác hẳn. Doanh nghiệp phải đóng toàn bộ phí ngay từ đầu, khoảng 4 - 10 triệu đồng tùy số nhóm ngành, rồi bước vào giai đoạn chờ đợi kéo dài từ bốn tháng đến hơn một năm mà không biết kết quả. Rủi ro lớn nhất không chỉ là tiền, mà là chi phí cơ hội và sự mông lung trong suốt thời gian thẩm định.
Để rút ngắn khoảng cách, các nhà hoạch định chính sách cần những bước đi quyết liệt hơn. Trước hết là mở kho dữ liệu trực tuyến đồng bộ, cập nhật thời gian thực và công khai hoàn toàn. Khi dữ liệu minh bạch, các đơn vị thiết kế và doanh nghiệp có thể chủ động rà soát, giảm tải hồ sơ lỗi cho cơ quan quản lý.
Song song đó, cần lộ trình ưu tiên theo giai đoạn: giai đoạn đầu tập trung vào các ngành thế mạnh xuất khẩu như nông sản, thực phẩm, công nghệ; giai đoạn tiếp theo áp dụng cơ chế cấp chứng chỉ tạm thời bằng mã QR trong 1 - 3 tháng đầu để doanh nghiệp kịp thời triển khai kinh doanh; cuối cùng là xây dựng quỹ hoàn phí hoặc hỗ trợ tài chính cho các start-up xây dựng thương hiệu bài bản.
Nhưng trong khi chờ chính sách thay đổi, doanh nghiệp cũng cần tự thay đổi tư duy trước. Đừng vì quy trình chậm mà chọn cách buôn nhanh bán nhanh - vượt qua tư duy "ăn xổi" chính là điểm phân biệt giữa doanh nghiệp tồn tại và doanh nghiệp trường tồn.
Hãy dùng thời gian chờ đợi pháp lý để mài giũa sản phẩm, hoàn thiện quy trình. Một thương hiệu mạnh không nằm ở tờ giấy chứng nhận, mà nằm ở chất lượng sản phẩm và niềm tin khách hàng.
Nhìn cách các doanh nghiệp châu Âu bền bỉ xây dựng di sản hàng trăm năm, ta thấy họ luôn bắt đầu từ những bước đi pháp lý chặt chẽ nhất. Để thoát khỏi cái mác "gia công", doanh nghiệp Việt phải lấy đầu tư vào sản xuất và bảo hộ trí tuệ làm kim chỉ nam.
Chính sách có thể còn độ trễ, nhưng tư duy của người dẫn đầu không thể chậm trễ. Sự chuyên nghiệp trong cách ta bảo vệ thương hiệu chính là thước đo cho tầm vóc của doanh nghiệp trong tương lai.