Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam – Petrolimex (PLX) vừa công bố tài liệu phục vụ Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026.
Hội đồng quản trị trình cổ đông kế hoạch doanh thu đạt 315.000 tỉ đồng, tăng 2% so với mức thực hiện năm 2025. Nếu hoàn thành đây sẽ là mức doanh thu cao nhất từ trước tới nay của doanh nghiệp.
Ở chiều ngược lại, tập đoàn đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 3.380 tỉ đồng, giảm 7% so với cùng kỳ.
Sản lượng xăng dầu xuất bán hợp nhất dự kiến đạt khoảng 19,4 triệu m³/tấn (tương đương 19,443 triệu tấn), tăng 10% so với kết quả năm 2025. Tập đoàn dự kiến chi trả cổ tức với tỉ lệ 10%.
Doanh nghiệp khép lại năm 2025 với sản lượng xăng dầu bán ra đạt 17,7 triệu m³/tấn, tăng 2% so với cùng kỳ.
Doanh thu đạt 309.875 tỉ đồng và lợi nhuận hợp nhất trước thuế đạt 3.643 tỉ đồng, lần lượt tăng 25% và 14% so với thực hiện năm 2024. PLX dự kiến sử dụng 1.525 tỉ đồng để trả cổ tức cho cổ đông, tương ứng tỉ lệ 12%.
Trong năm, PLX thí điểm xây dựng mới và cải tạo tổng thể 12 cửa hàng xăng dầu theo mô hình trạm dịch vụ xe tải.
Hệ thống bán lẻ tiếp tục được mở rộng với 76 cửa hàng xăng dầu phát triển mới, nâng tổng số cửa hàng lên 2.831 điểm trên toàn quốc.
Theo Petrolimex, xe điện đã bắt đầu tạo ảnh hưởng rõ nét hơn, song chưa chiếm ưu thế trên thị trường khi số lượng phương tiện sử dụng động cơ đốt trong vẫn ở mức lớn.
Trong kịch bản nền kinh tế vận hành theo định hướng của Chính phủ, Petrolimex dự báo giai đoạn 2026 – 2027, tốc độ tăng trưởng sản lượng có thể dao động trong khoảng 8,5 – 10%.
Động lực chính đến từ các chủ trương, định hướng phát triển của Nhà nước, cùng với việc triển khai các dự án cao tốc mới; đồng thời, nhu cầu của nền kinh tế được kỳ vọng sẽ phần nào bù đắp cho giai đoạn đầu của các chính sách hạn chế phương tiện và sự gia tăng của xe điện.
Bước sang giai đoạn 2028 – 2030, tốc độ tăng trưởng sản lượng có thể chậm lại, ở mức 6 – 7%. Khi đó, tác động từ xe điện, nhiên liệu xanh và các chính sách hạn chế phương tiện được dự báo sẽ thể hiện rõ hơn. Tính chung giai đoạn 2026 – 2030, tập đoàn đặt mục tiêu sản lượng kinh doanh xăng dầu tăng trưởng bình quân khoảng 7%/năm.
Về doanh thu, doanh nghiệp đặt mục tiêu tăng trưởng bình quân giai đoạn 2026 – 2030 không thấp hơn mức tăng sản lượng, dự kiến đạt khoảng 7%/năm. Lợi nhuận trong cùng giai đoạn được kỳ vọng tăng trưởng bình quân 6-7%/năm.
Tỉ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu của công ty mẹ dự kiến duy trì trong khoảng 6-7%/năm; đồng thời, tỷ lệ chi trả cổ tức được đặt mục tiêu bình quân 8-10%/năm.
Bà Cao Xuân Thu Vân, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, cho biết như vậy tại buổi thông tin về các hoạt động của hệ thống Liên minh Hợp tác xã Việt Nam năm 2026.
Nói về tình hình phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã, bà Vân cho biết trong nhiều năm qua, xu hướng tăng trưởng ổn định về số lượng, hoạt động ổn định cho thấy mô hình hợp tác xã tiếp tục là lựa chọn phù hợp cho các thành viên trong việc hợp tác sản xuất, kinh doanh.
Qua theo dõi, tình hình tài chính tăng trưởng mạnh những năm gần đây cho thấy sự củng cố về năng lực tài chính và nhận thức chuyển đổi phương thức từ sản xuất truyền thống sang ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số mạnh mẽ, thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị của các hợp tác xã.
Đến hết năm 2025, cả nước có hơn 36.000 hợp tác xã, gần 82.000 tổ hợp tác, trong đó có gần 24.000 hợp tác xã nông nghiệp.
Doanh thu bình quân một hợp tác xã ước đạt 3,2 tỉ đồng/năm, lợi nhuận bình quân ước đạt 255 triệu đồng/năm.
Thu nhập bình quân của lao động thường xuyên ước đạt khoảng 57 triệu đồng/người/năm (tức khoảng 4,75 triệu đồng/tháng), mức thu nhập này tăng khoảng 5-6% so với năm 2024.
Bà Vân cho biết năm 2026, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam đặt mục tiêu thành lập từ 900-1.000 hợp tác xã mới với tiêu chí "mạnh từ khi thành lập".
"Chúng tôi đang tiến tới xây dựng mô hình hợp tác xã hạnh phúc và thí điểm ở Quảng Ninh. Mô hình này sẽ có các tiêu chí riêng, nhưng mục tiêu cuối cùng là tham gia vào hợp tác xã là có lợi nhuận, làm giàu cho thành viên" - bà Vân chia sẻ.
Song song với thành lập mới, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam cũng sẽ giải quyết hơn 10.000 hợp tác xã (khoảng 30% tổng số hợp tác xã) hoạt động cầm chừng hoặc tạm dừng hoạt động nhưng chưa thể phá sản.
"Vừa qua, Quốc hội thông qua Luật Phá sản, điều này giúp các hợp tác xã yếu kém giải thể nhanh hơn" - bà Vân nói.
Thông tin về các hoạt động trong tháng hành động vì hợp tác xã năm nay (từ 9 đến 11-4), ông Đinh Hồng Thái, Phó chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, cho biết đơn vị sẽ tổ chức Diễn đàn Hợp tác xã quốc gia lần thứ ba năm 2026 với chủ đề kết nối kinh tế hợp tác với hệ sinh thái kinh tế tư nhân.
Tọa đàm khoa học với chủ đề giải pháp thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đảm bảo an toàn thông tin trên không gian mạng cho khu vực kinh tế tư nhân, hợp tác xã. Hội thảo khoa học tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác xã với chủ đề giá trị lịch sử và định hướng phát triển kinh tế tập thể trong kỷ nguyên mới.
Cùng với đó là lễ kỷ niệm 80 năm ngày Bác Hồ viết thư kêu gọi điền chủ, nông gia Việt Nam tham gia hợp tác xã nông nghiệp và trao giải Ngôi sao hợp tác xã lần thứ ba và giải Mai An Tiêm lần thứ hai năm 2026...
Tại họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 3, Thứ trưởng Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân cho biết hai nhà máy lọc dầu trong nước là Dung Quất và Nghi Sơn đảm bảo đủ nguyên liệu để sản xuất đến hết tháng 4.
Trong tháng 3, các thương nhân đầu mối cũng nhập khẩu 3,2 triệu m3 xăng dầu. Cùng với hàng tồn kho hiện tại (2,6-2,8 triệu m3), nguồn cung xăng dầu trong nước có thể đảm bảo cho sản xuất và tiêu dùng hết tháng này, theo Thứ trưởng.
Xung đột Trung Đông tiếp tục leo thang từ cuối tháng 2 gây hệ lụy lớn đến nguồn cung xăng dầu, khí toàn cầu. Quy mô và mức độ ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng này vượt cú sốc dầu mỏ của thập niên 1970 - từng làm đảo lộn nền kinh tế, thị trường năng lượng.
Diễn biến này kéo theo thị trường năng lượng trong nước biến động mạnh. Từ cuối tháng 2 đến nay, giá bán lẻ xăng dầu trong nước có 13 kỳ điều hành, hiện mỗi lít xăng RON 95-III là 26.970 đồng, dầu diesel 44.780 đồng một lít.
Trước diễn biến này, từ đầu tháng 3, Việt Nam đã xây dựng kịch bản để điều hành xăng dầu. Theo Thứ trưởng, nhà điều hành tính tới kịch bản khủng hoảng diễn ra 4 tuần và dài hơn thời gian này. Bộ Công Thương đang xây dựng kịch bản cho các tháng tiếp theo.
Thứ trưởng cho biết việc điều hành cung cầu và giá xăng dầu trên nguyên tắc bảo đảm an ninh năng lượng, bám sát diễn biến giá thế giới, đánh giá tác động tới người dân và các ngành chịu ảnh hưởng. Trên cơ sở đó, cơ quan quản lý đưa ra các giải pháp nhằm ổn định cung cầu, giá cả và hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Cùng quan điểm, tại họp Chính phủ thường kỳ cùng ngày, quyền Bộ trưởng Công Thương Lê Mạnh Hùng cũng khẳng định Việt Nam vẫn duy trì được "ổn định tương đối" trong khi nhiều quốc gia trong khu vực rơi vào tình trạng khủng hoảng năng lượng.
Tại Thái Lan, giá xăng đã lên tới hơn 51.000 đồng một lít, trong khi diesel khoảng 47.000 đồng một lít. Một số nước như Lào, Campuchia ghi nhận tình trạng đóng cửa nhiều cây xăng, còn Philippines tuyên bố tình trạng khó khăn. Ở các nền kinh tế phát triển, doanh nghiệp thậm chí khuyến cáo người lao động làm việc từ xa để giảm nhu cầu đi lại.
"Trong bối cảnh đó, Việt Nam không chỉ bảo đảm nguồn cung mà còn duy trì mức giá thấp hơn trung bình thế giới, chỉ khoảng 1,3 USD một lít, thấp hơn cả các nước có chung đường biên giới", ông Hùng nói.
Song theo quyền Bộ trưởng, nền kinh tế vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn do còn phụ thuộc lớn vào năng lượng nhập khẩu, sức cầu trong nước chưa phục hồi mạnh và những biến động khó lường từ bên ngoài. Do đó, nhà điều hành cần triển khai đồng bộ các giải pháp, từ bảo đảm năng lượng, tái cơ cấu công nghiệp đến kích cầu tiêu dùng để ổn định kinh tế vĩ mô.
Để ứng phó, Bộ Công Thương cho biết Chính phủ đã sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu, giảm tối đa các loại thuế (bảo vệ môi trường, VAT, tiêu thụ đặc biệt) nhằm giảm áp lực tăng giá nhiên liệu. Bên cạnh đó, nhà điều hành có các giải pháp nhằm tăng năng lực sản xuất trong nước, đa dạng nguồn cung nhập khẩu, phát triển nguồn năng lượng thay thế (xăng sinh học), tăng năng lực dự trữ và quản trị rủi ro.
Cảng quốc tế Chu Lai chính thức đưa vào vận hành hệ thống điện năng lượng mặt trời đầu tiên, từng bước ứng dụng năng lượng sạch trong hoạt động khai thác cảng
Dự án được triển khai theo 3 giai đoạn, với tổng công suất dự kiến đạt 5.100 kWp. Trong đó, giai đoạn 1 được triển khai theo 2 đợt liên tiếp trong năm 2026.
Cụ thể, đợt 1 bắt đầu từ tháng 1-2026 với công suất 700 kWp trên diện tích gần 5.000 m². Tiếp nối, trong tháng 4-2026, cảng triển khai đợt 2 với quy mô mở rộng thêm 800 kWp trên diện tích hơn 7.200 m².
Sau khi hoàn thành cả 2 đợt, tổng công suất giai đoạn 1 đạt 1.500 kWp với khoảng 2.300 tấm pin năng lượng mặt trời, sản lượng điện dự kiến khoảng 2,1 triệu kWh/năm.
Trong các giai đoạn tiếp theo, cảng sẽ tiếp tục đầu tư mở rộng với tổng công suất bổ sung đạt 3.600 kWp (tương đương sản lượng điện khoảng trên 5 triệu kWh/năm), triển khai trên quy mô lớn tại hệ thống kho bãi và hạ tầng hiện hữu.
Khi hoàn thành, tổng công suất điện mặt trời tại Cảng quốc tế Chu Lai đáp ứng toàn bộ nhu cầu cung cấp điện cho hoạt động khai thác, đặc biệt là hệ thống container lạnh và chuỗi logistics nông nghiệp.
Nguồn điện năng lượng mặt trời được sử dụng trong các hoạt động xếp dỡ hàng hóa, lưu kho, bãi tại cảng
Lợi thế lớn để phát triển điện mặt trời
Với tổng diện tích 140 ha, trong đó khu kho bãi chiếm khoảng 20 ha, Cảng quốc tế Chu Lai có lợi thế lớn để phát triển điện mặt trời áp mái. Kết hợp với điều kiện thời tiết khu vực miền Trung có số giờ nắng cao và bức xạ tốt, hệ thống này tạo ra nguồn điện ổn định, giúp duy trì liên tục hoạt động xếp dỡ, lưu trữ hàng hóa, hạn chế rủi ro gián đoạn trong khai thác.
Việc chủ động sử dụng nguồn điện tại chỗ giúp cảng giảm đáng kể chi phí điện năng - một trong những cấu phần chi phí lớn trong khai thác cảng, đặc biệt đối với vận hành container lạnh và hệ thống kho. Qua đó, tạo cơ sở quan trọng để cảng triển khai các chính sách giá linh hoạt và cạnh tranh hơn cho khách hàng.
Cảng quốc tế Chu Lai định hướng duy trì ổn định đơn giá dịch vụ trong dài hạn, hạn chế tối đa tác động từ biến động giá nhiên liệu và giá điện; đồng thời tối ưu chi phí lưu bãi, vận hành container lạnh và dịch vụ logistics liên quan, giúp doanh nghiệp xuất nhập khẩu - đặc biệt trong lĩnh vực nông sản - giảm áp lực chi phí chuỗi cung ứng, gia tăng hiệu quả kinh doanh.
Không chỉ mang lại lợi ích về chi phí, dự án còn góp phần giảm phát thải khí nhà kính, giảm phụ thuộc vào nguồn năng lượng truyền thống và từng bước hiện thực hóa mục tiêu phát triển cảng xanh.
Đây là một trong những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh tổng thể của Cảng quốc tế Chu Lai trong bối cảnh ngành logistics đang chuyển dịch mạnh theo hướng bền vững.
Hệ thống điện năng lượng mặt trời giúp khách hàng tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng
Trong bối cảnh chi phí năng lượng liên tục gia tăng và yêu cầu giảm phát thải ngày càng cao, việc đầu tư hệ thống điện mặt trời không chỉ là giải pháp kỹ thuật mà còn là chiến lược dài hạn, giúp Cảng quốc tế Chu Lai chủ động nguồn lực, đồng hành cùng khách hàng tối ưu chi phí và phát triển bền vững.