Cục Thống kê vừa công bố Chỉ số giá sinh hoạt theo không gian (SCOLI) của 34 tỉnh, thành phố và 6 vùng kinh tế – xã hội. SCOLI tính bằng %, phản ánh sự chênh lệch giá hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng hằng ngày của người dân giữa địa phương.
Năm 2025, Hà Nội làm mốc so sánh (SCOLI=100) và đây cũng là địa phương dẫn đầu cả nước với mức giá đắt đỏ nhất. Đứng thứ hai và ba là Quảng Ninh và Hải Phòng, ghi nhận SCOLI lần lượt bằng 98,56% và 98,43% so với Hà Nội.
TP HCM đứng thứ tư, với SCOLI năm 2025 bằng 97,96%. Theo Cục Thống kê, đây là trung tâm kinh tế lớn với tốc độ đô thị hóa cao, dân số đông và nhu cầu tiêu dùng đa dạng, góp phần duy trì mặt bằng giá ở mức cao.
Tuy nhiên, nhờ hệ thống phân phối hiện đại, nguồn cung hàng hóa dồi dào và mức độ cạnh tranh cao, mặt bằng giá bình quân tại TP HCM thấp hơn Hà Nội, tiêu biểu như các nhóm hàng thiết bị và đồ dùng gia đình (93,66%); may mặc, mũ nón và giày dép (94,33%); nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng (97,23%).
Đà Nẵng đứng thứ 5 cả nước, với chỉ số SCOLI năm 2025 bằng 97,89%. Thành phố này có lợi thế về vị trí địa lý và hạ tầng giao thông, tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông hàng hóa, chi phí sinh hoạt chưa ở mức cao như Hà Nội.
Chỉ số giá sinh hoạt theo không gian 2025
Thứ hạng
Cao nhất
Thấp nhất
Địa phương
SCOLI
Địa phương
SCOLI
1
Hà Nội
100
Vĩnh Long
91,47
2
Quảng Ninh
98,56
Gia Lai
92,62
3
Hải Phòng
98,43
Cà Mau
92,97
4
TP HCM
97,96
Quảng Trị
92,99
5
Đà Nẵng
97,89
Tây Ninh
93,51
Trong khi đó, top 5 địa phương có chi phí sinh hoạt dễ chịu nhất năm qua là Vĩnh Long, Gia Lai, Cà Mau, Quảng Trị và Tây Ninh. Trong đó, Vĩnh Long có chỉ số SCOLI 2025 thấp nhất cả nước, bằng 91,47% Hà Nội.
Tỉnh này có lợi thế về sản xuất nông nghiệp và thủy sản nên nguồn cung lương thực, thực phẩm dồi dào. Trong khi, hoạt động thương mại và dịch vụ phát triển vừa phải, nhu cầu tiêu dùng không cao, giúp mặt bằng giá ổn định. Đây cũng là điểm chung của các địa phương có mức giá sinh hoạt thấp.
Tính chung 34 tỉnh, thành, Cục Thống kê đánh giá mức giá sinh hoạt chênh lệch không nhiều, nhờ hệ thống phân phối, logistics phát triển. Đặc biệt, thương mại điện tử đã góp phần tăng tính minh bạch, cạnh tranh và rút ngắn khoảng cách giá.
Xét theo vùng, lấy Đồng bằng sông Hồng làm mốc so sánh (SCOLI=100), thì vùng này cũng là khu vực có giá sinh hoạt đắt nhất cả nước. Nguyên nhân được chỉ ra là kinh tế phát triển ổn định, mật độ dân số cao và tốc độ đô thị hóa nhanh.
Cơ cấu tiêu dùng của người dân vùng này tập trung vào tiền thuê nhà, y tế, giáo dục và ăn ngoài. Giá bất động sản tại Hà Nội và các đô thị tăng do quỹ đất hạn chế trong khi nhu cầu lớn, kéo theo chi phí thuê nhà và sinh hoạt tăng. Giáo dục và y tế chất lượng cao cũng nhiều, góp phần làm tăng SCOLI.
Ngoài ra, chi phí đầu vào như giá thuê mặt bằng, chi phí lao động và chi phí dịch vụ tại các đô thị lớn ở mức cao, làm tăng chi phí sản xuất, kinh doanh và cung ứng hàng hóa, dịch vụ, qua đó tác động đến mặt bằng giá tiêu dùng của dân cư.
Đứng thứ hai là vùng Đông Nam Bộ với chỉ số SCOLI đạt 98,88%. Tiếp theo là Trung du và miền núi phía Bắc; Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên; Bắc Trung Bộ và thấp nhất là vùng Đồng bằng sông Cửu Long bằng 95,11%. Như vậy, khoảng cách giữa vùng có mức giá cao nhất và thấp nhất ở mức 4,89 điểm phần trăm, phản ánh chênh lệch không lớn, theo Cục Thống kê.
Ngày 8-4, ghi nhận của Tuổi Trẻ Online tại tỉnh An Giang cho thấy dọc các cánh đồng ven sông Tiền, sông Hậu, khu vực kênh Vĩnh Tế, Bảy Núi… nhiều diện tích lúa đã chín rộ nhưng chưa được thu hoạch.
Thậm chí không ít nơi lúa chín đổ rạp do chậm thu hoạch, trong khi thương lái thu mua còn hạn chế, thiếu máy gặt đập liên hợp thu hoạch lúa.... do giá xăng dầu tăng mạnh.
Nguyên nhân chính được người dân và chủ máy gặt phản ánh là do giá dầu tăng mạnh, kéo theo chi phí vận hành máy móc tăng cao. Nếu như trước đây giá thuê máy gặt khoảng 200.000 đồng/công đối với lúa đứng và 260.000 đồng/công đối với lúa ngã, thì hiện nay đã tăng lên khoảng 300.000 đồng/công và 500.000 - 600.000 đồng/công tùy khu vực.
Ông Hà Phú Hộ (81 tuổi, chủ máy gặt đập liên hợp) cho biết giá dịch vụ hiện dao động khoảng 300.000 đồng/công đối với lúa đứng, trong khi giá lúa sập từ 500.000 - 600.000 đồng/công, cao gấp đôi so với trước đây.
Theo ông, mỗi công lúa sập tiêu tốn khoảng 5 lít dầu, cần thêm nhân công hỗ trợ và phát sinh nhiều chi phí vận hành, vận chuyển.
Với lúa đứng, hai máy của ông có thể gặt khoảng 70 công/ngày, tương đương 11 công/giờ; trong khi lúa sập chỉ đạt khoảng 35 công/ngày, tương đương 4 - 5 công/giờ. "Chi phí đầu vào năm nay đều tăng mạnh, từ phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nhiên liệu đến giống lúa nên người nông dân phải gánh hết", ông Hộ nói.
Ông Nguyễn Hoàng Vĩnh - Chủ tịch UBND xã Vĩnh Gia, tỉnh An Giang - cho hay địa phương có diện tích sản xuất lúa hơn 15.200ha, lớn nhất trong số các xã sau sáp nhập. Hiện nay cơ bản bà con đã thu hoạch xong gần 90% diện tích xuống giống.
Trước thông tin nông dân bỏ vụ, ông Vĩnh khẳng định: "Thực tế là điều chỉnh mùa vụ. Do chi phí tăng cao, đặc biệt là giá dầu tăng mạnh nên nhiều hộ có xu hướng giảm từ 3 vụ xuống còn 2 vụ/năm, tập trung vào vụ đông xuân và hè thu để giảm rủi ro".
Theo lãnh đạo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh An Giang, đến nay toàn tỉnh đã thu hoạch khoảng 407.886/505.711ha, đạt 88% kế hoạch; năng suất bình quân ước đạt 7,8 tấn/ha, tăng 2,25% so với kế hoạch đề ra.
Trước xu hướng có thể giảm số vụ sản xuất, lãnh đạo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh An Giang cho rằng việc điều chỉnh cần đặt trong tổng thể kế hoạch chung của ngành, do liên quan đến chỉ tiêu diện tích, năng suất và sản lượng.
Trường hợp người dân muốn giảm vụ, địa phương cần vận động, đồng thời báo cáo, xin ý kiến cấp có thẩm quyền để đảm bảo phù hợp với kịch bản tăng trưởng.
"Để hỗ trợ nông dân trong bối cảnh chi phí đầu vào tăng cao, ngành nông nghiệp đang triển khai các giải pháp giảm chi phí sản xuất như giảm lượng giống gieo sạ, áp dụng kỹ thuật tưới "ngập - khô xen kẽ", tiết kiệm vật tư…
Đồng thời các cơ quan chức năng cũng đề xuất giải pháp bình ổn giá, nhất là đối với phân bón và vật tư nông nghiệp", vị này nói thêm.
Sacombank công bố giảm lãi suất huy động và cho vay, với mức giảm 0,5%/năm nhiều kỳ hạn từ ngày 10-4.
"Việc điều chỉnh áp dụng đồng thời cả chiều huy động và cho vay phản ánh cách tiếp cận hài hòa của Sacombank trong việc cân đối quyền lợi hợp lý của người gửi tiền và giảm bớt áp lực chi phí vốn cho người vay, đặc biệt là nhóm khách hàng cá nhân và doanh nghiệp vừa và nhỏ", đại diện Sacombank cho biết.
Vietcombank giảm lãi suất tiền gửi kỳ hạn 24 tháng xuống còn 6%/năm, áp dụng từ ngày 13-4. Các kỳ hạn khác sẽ tiếp tục được Vietcombank rà soát, điều chỉnh phù hợp.
BVBank cũng giảm lãi suất huy động với mức giảm từ 0,3% đến 0,5%/năm, tùy theo kỳ hạn, bắt đầu từ ngày 11-4. Cụ thể kỳ hạn từ 6-12 tháng lãi suất huy động giảm 0,3%/năm, còn kỳ hạn từ 15-36 tháng lãi suất huy động giảm 0,5%/năm.
Song song với việc giảm lãi suất huy động, BVBank cho biết sẽ tiếp tục tối ưu chi phí vốn, hướng tới giảm lãi suất vay, hỗ trợ khách hàng tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý hơn để thúc đẩy sản xuất kinh doanh, góp phần ổn định thị trường tài chính - tiền tệ và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Tại VPBank, lãi suất huy động đối với khách hàng cá nhân giảm ở nhiều kỳ hạn. Cụ thể, với các kỳ hạn gửi tiết kiệm trực tuyến từ 6 tháng trở lên, mức giảm từ 0,3-0,5/năm. Mức lãi suất cao nhất áp dụng cho khoản tiền gửi từ 1 tỉ đồng, kỳ hạn từ 10 tháng trở lên, là 6,6%/năm, trong khi trước đó là 7,1%/năm.
ABBank cũng giảm lãi suất huy động với mức 0,5%/năm ở nhiều kỳ hạn sau cuộc họp với Ngân hàng Nhà nước, nhằm tạo dư địa giảm lãi suất cho vay, hỗ trợ khách hàng cá nhân và doanh nghiệp tiếp cận vốn với chi phí hợp lý hơn.
Tại Ngân hàng Đông Nam Á (SeABank), lãi suất huy động giảm 0,5%/năm với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, áp dụng cho các khoản tiền gửi mới trên toàn hệ thống từ ngày 10-4.
Đại diện SeABank cho biết việc giảm lãi suất huy động lần này là một phần trong cam kết của SeABank nhằm góp phần hỗ trợ phục hồi kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng bền vững, hài hòa lợi ích giữa phát triển kinh doanh và đồng hành cùng khách hàng.
Ngân hàng TMCP Kiên Long (KienlongBank) cũng giảm lãi suất cho vay tới 1%/năm đối với cả khách hàng cá nhân và doanh nghiệp, đồng thời hạ lãi suất huy động tối đa 0,5%/năm.
Sáng ngày 8/4 (giờ Việt Nam), Tổng thống Mỹ Donald Trump công bố thỏa thuận ngừng bắn tạm thời kéo dài 2 tuần. Điều kiện then chốt để duy trì thỏa thuận là Tehran phải mở lại eo biển Hormuz cho hoạt động vận tải thương mại.
Tuy nhiên, thực tế trên biển lại đang diễn biến theo một kịch bản khác. Theo ghi nhận của WSJ, lưu lượng tàu thuyền qua eo biển có nhích lên nhẹ vào ngày 9/4 nhưng vẫn ở mức cực kỳ khiêm tốn.
Dữ liệu từ Kpler cho thấy chỉ có 10 tàu đi qua eo biển kể từ khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực, bao gồm 4 tàu chở dầu và 6 tàu chở hàng rời.
Trước khi những biến động bùng phát vào cuối tháng 2, mỗi ngày tuyến đường này đón nhận hơn 100 lượt tàu qua lại. Nơi đây vốn gánh vác việc luân chuyển khoảng 1/5 lượng dầu thô và khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) của toàn thế giới.
Sự sụt giảm đột ngột này đã tạo ra một "nút thắt cổ chai" trên biển. Theo báo cáo của Lloyd's List, khoảng 800 con tàu vẫn đang mắc kẹt, neo đậu chờ đợi tại vùng biển xung quanh khu vực này. Lưu lượng hiện tại vẫn thấp hơn 90% so với mức bình thường và gần như hoàn toàn do thương mại liên quan đến Iran chi phối.
"Luật chơi" mới và lời đồn tiền mã hóa
Sự thận trọng của các doanh nghiệp vận tải là hoàn toàn có cơ sở khi những "luật chơi" mới đang dần thành hình. Phía Iran đã phát đi thông điệp qua các bên trung gian rằng họ sẽ giới hạn số lượng tàu được phép đi qua ở mức khoảng một chục tàu mỗi ngày.
Theo thông tin từ Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran, tàu thuyền giờ đây chỉ được phép đi qua khi có sự phối hợp chặt chẽ với hải quân nước này. Iran cũng đã chủ động công bố các tuyến hàng hải thay thế, chủ yếu đi gần khu vực đảo Larak để tránh rủi ro.
Đi kèm với đó là những điều kiện mang tính chọn lọc khắt khe. Các tàu muốn qua eo biển phải nằm trong một danh sách đã được phê duyệt từ trước. Những quốc gia được xem là "thân thiện" với Tehran có thể sẽ được ưu tiên cấp phép di chuyển.
Gây chú ý nhất trong giới tài chính lúc này là thông tin về khả năng thu phí trung chuyển. Theo tờ Financial Times, Iran có thể sẽ yêu cầu mức phí 1 USD cho mỗi thùng dầu đi qua eo biển.
Điểm độc đáo là khoản phí này có thể được yêu cầu thanh toán bằng tiền mã hóa. Nếu thành sự thật, đây là một chi tiết mang tính bước ngoặt, buộc các tập đoàn năng lượng phải tính toán lại toàn bộ bài toán chi phí logistics và phương thức thanh toán.
Bài toán rủi ro của giới chủ tàu
Trước những rào cản và rủi ro khó lường, các hãng vận tải biển lớn trên thế giới vẫn chọn cách quan sát. Tập đoàn vận tải khổng lồ Hapag-Lloyd của Đức cho biết họ chưa có kế hoạch nối lại tuyến đường đi qua Hormuz.
Hiệp hội vận tải biển quốc tế BIMCO cũng phát đi thông điệp cảnh báo tới các hội viên. Tổ chức này nhấn mạnh việc rời khỏi khu vực Vịnh lúc này là hành động không nên thực hiện nếu thiếu đi sự phối hợp chặt chẽ với cả phía Mỹ và Iran.
Những lo ngại về an ninh hàng hải vẫn luôn hiện hữu. Dữ liệu từ Tổ chức Hàng hải Quốc tế chỉ ra rằng, kể từ đầu tháng 3, đã có tới 30 tàu thương mại bị tấn công hoặc gặp sự cố tại khu vực này, trong đó có 13 chiếc là tàu chở dầu.
Cơ quan Năng lượng Quốc tế đánh giá những biến động hiện tại đã tạo ra một cú sốc nguồn cung nghiêm trọng đối với thị trường dầu mỏ toàn cầu. Tuy nhiên, giới đầu tư vẫn đang giữ thái độ bình tĩnh, chờ đợi những tín hiệu rõ ràng hơn từ các bên liên quan.
Tình hình tại eo biển Hormuz hiện tại vẫn còn nhiều ẩn số đối với chuỗi cung ứng toàn cầu. Biên tập viên Richard Meade của Lloyd’s List nhận định: “Eo biển hiện vẫn mở, hoặc đóng, giống như trước khi kế hoạch ngừng bắn được đưa ra”.