Theo đó, chủ trương của thành phố Đà Nẵng sẽ nâng quy mô Trung tâm Y tế khu vực Sơn Trà lên khoảng 350 giường bệnh trong giai đoạn 2025-2030, hướng tới trở thành bệnh viện đa khoa khu vực thực hiện chức năng khám bệnh và điều trị nội trú.
Dự án sẽ mở rộng khuôn viên trung tâm về phía nam, giáp đường Vũ Văn Dũng. Sau khi mở rộng, diện tích khu đất khoảng 20.859m², gần gấp đôi so với hiện trạng. Thành phố dự kiến chi hơn 112,3 tỉ đồng để đền bù, giải phóng mặt bằng và bố trí 16 lô đất tái định cư tại các khu dân cư thuộc phường An Hải.
Theo quy hoạch, dự án sẽ xây dựng mới khối đa chức năng cao 9 tầng nổi và 1 tầng hầm với quy mô 160 giường bệnh; xây dựng khối lây nhiễm 3 tầng, nhà đại thể, quầy thuốc và hành lang nối giữa các khối nhà.
Bên cạnh đó, khối nhà 9 tầng hiện trạng với 180 giường và khối đông y – phục hồi chức năng cũng sẽ được cải tạo, nâng cấp đồng bộ về công năng, hạ tầng và trang thiết bị y tế.
Tổng mức đầu tư dự án gần 700 tỉ đồng từ ngân sách thành phố. Dự án dự kiến triển khai xây dựng trong giai đoạn 2026-2029. Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật Đà Nẵng được giao làm chủ đầu tư kiêm quản lý dự án.

Trong nhiều năm, các yếu tố nguy cơ của đột quỵ thường được xác định dựa trên lối sống và tình trạng sức khỏe ở tuổi trưởng thành, như béo phì, hút thuốc hay tăng huyết áp. Tuy nhiên, nghiên cứu mới do các nhà khoa học từ University of Gothenburg thực hiện đã mở rộng góc nhìn: nguy cơ đột quỵ có thể đã được "lập trình" từ khi một người chào đời.
Công trình phân tích dữ liệu của gần 800.000 người sinh tại Thụy Điển trong giai đoạn 1973-1982, theo dõi đến năm 2022. Kết quả cho thấy những người có cân nặng khi sinh dưới mức trung bình (khoảng 3kg) có nguy cơ đột quỵ cao hơn rõ rệt khi bước vào tuổi trưởng thành.
Cụ thể, nhóm này có nguy cơ mắc tất cả các dạng đột quỵ tăng khoảng 21%, trong đó nguy cơ đột quỵ thiếu máu cục bộ tăng đáng kể, còn xuất huyết nội sọ, dạng đột quỵ nguy hiểm hơn, tăng tới 27%.
Điều đáng chú ý là mối liên hệ này không bị ảnh hưởng bởi chỉ số BMI khi trưởng thành hay tuổi thai lúc sinh, cho thấy cân nặng khi sinh là một yếu tố độc lập.
Các nhà khoa học cho rằng cân nặng khi sinh phản ánh môi trường phát triển trong tử cung. Khi thai nhi không nhận đủ dinh dưỡng hoặc gặp điều kiện bất lợi, cơ thể có thể "thích nghi" bằng cách thay đổi cấu trúc và chức năng của các cơ quan, bao gồm hệ tim mạch và mạch máu não.
Những thay đổi này có thể không biểu hiện ngay nhưng âm thầm làm tăng nguy cơ bệnh lý trong tương lai, đặc biệt là các bệnh liên quan đến tuần hoàn máu như đột quỵ.
Nói cách khác, cơ thể "ghi nhớ" điều kiện sống từ trong bụng mẹ, và điều đó có thể ảnh hưởng đến sức khỏe suốt nhiều thập kỷ sau.
Mặc dù tỉ lệ đột quỵ đã giảm ở nhiều quốc gia phát triển, nhưng xu hướng này không rõ rệt ở người trẻ. Thậm chí, tại một số khu vực ở Đông Nam Á và các nước phát triển, tỉ lệ đột quỵ ở người trẻ và trung niên đang có dấu hiệu gia tăng.
Điều này khiến các nhà khoa học đặc biệt quan tâm đến những yếu tố nguy cơ "sớm" như cân nặng khi sinh, những yếu tố mà trước đây ít được chú ý trong đánh giá nguy cơ.
Không thể thay đổi quá khứ, nhưng có thể phòng ngừa tương lai. Đối với người trưởng thành hiện nay, cân nặng khi sinh là yếu tố không thể thay đổi. Tuy nhiên, việc nhận diện nguy cơ sớm có thể giúp chủ động phòng ngừa.
Những người từng sinh nhẹ cân nên chú ý hơn đến các yếu tố nguy cơ khác như huyết áp, chế độ ăn, vận động và kiểm tra sức khỏe định kỳ. Việc kiểm soát tốt các yếu tố này có thể giúp giảm đáng kể nguy cơ đột quỵ.
Quan trọng hơn, phát hiện này mở ra cơ hội can thiệp từ sớm, ngay từ giai đoạn mang thai. Chăm sóc dinh dưỡng tốt cho mẹ bầu, theo dõi thai kỳ chặt chẽ và đảm bảo điều kiện phát triển tối ưu cho thai nhi có thể góp phần giảm nguy cơ bệnh tật cho thế hệ tương lai.
Nghiên cứu được trình bày tại European Congress on Obesity 2026 không chỉ cung cấp thêm bằng chứng về mối liên hệ giữa giai đoạn đầu đời và sức khỏe lâu dài, mà còn gợi ý rằng cân nặng khi sinh có thể được đưa vào các mô hình đánh giá nguy cơ bệnh tim mạch.
Đây là một bước tiến trong cách tiếp cận y học dự phòng, không chỉ nhìn vào hiện tại, mà còn xem xét toàn bộ "lịch sử sinh học" của một con người.

Ngày 8/4, đại diện Bệnh viện Nhi đồng 1 (TPHCM) cho biết, vừa qua các bác sĩ khoa Ngoại Thần kinh đã tiếp nhận và điều trị thành công một trường hợp bệnh nhi mang khối u não nguy hiểm.
Bệnh nhi là bé T.G.K. (7 tháng tuổi, ngụ tỉnh Đồng Tháp). Khai thác bệnh sử, lúc 3 tháng tuổi, người nhà phát hiện đầu bé to dần, hay nôn ói sau bú và mắt nhìn xuống nên đưa đến khám tại Bệnh viện Nhi đồng 1.
Quá trình thăm khám, bác sĩ ghi nhận bé có tình trạng tăng áp lực nội sọ, ảnh siêu âm cho thấy khối u chèn ép vùng não thất III, gây giãn não thất nặng. Tiếp tục chụp cộng hưởng từ sọ não, bệnh nhi được xác định tình trạng não úng thuỷ tắc nghẽn, với khối u nằm ở vị trí có nhiều cấu trúc thần kinh quan trọng xung quanh.
Kết quả giải phẫu bệnh xác định, bệnh nhi mang u đám rối mạch mạc không điển hình độ 2, một khối u hiếm gặp của hệ thần kinh trung ương.
Do lo lắng việc phẫu thuật lấy u gây nguy cơ cao, gia đình và bác sĩ thống nhất tiến hành đặt dẫn lưu não thất màng bụng để điều trị giảm áp lực nội sọ tạm thời, đợi một khoảng thời gian bé đủ lớn sẽ mổ lấy u.
Nhưng 3 tháng sau, khi chụp phim cộng hưởng từ sọ não, bác sĩ phát hiện khối u tăng kích thước hơn gấp 3 lần. Không thể trì hoãn thêm, ê-kíp điều trị tư vấn gia đình việc phẫu thuật mổ lấy u để cấp cứu cháu bé.
Với sự chuẩn bị chu đáo và phối hợp nhịp nhàng giữa các chuyên khoa Ngoại thần kinh, Phẫu thuật gây mê hồi sức cùng Hồi sức ngoại, ca mổ đã diễn ra an toàn trong 6 giờ đồng hồ, giúp khối u của bé được bóc tách thành công. Sau thời gian hồi sức và chăm sóc tích cực sau mổ, bé đã hồi phục và được xuất viện.
TS.BS Trần Minh Huy, khoa Ngoại Thần kinh, chia sẻ, đây là ca mổ rất khó khăn, khi khối u kích thước lớn (6cm), tăng sinh mạch máu nuôi và phát triển trong lòng não thất. Ngoài ra, với thời gian cuộc mổ kéo dài, nguy cơ mất máu nhiều trên bệnh nhi 7 tháng tuổi đòi hỏi năng lực chuyên môn và phối hợp liên chuyên khoa chặt chẽ.
"Chúng tôi đã vượt qua những thách thức để thực hiện thành công ca phẫu thuật, đưa bệnh nhi trở về lại với cuộc sống bình thường", bác sĩ Huy nói.
Tái tạo khuyết hổng cho bệnh nhân ung thư vùng má
Các bác sĩ Bệnh viện Nguyễn Trãi (TPHCM) vừa phẫu thuật cắt khối u và tái tạo vùng khuyết hổng cho một phụ nữ mang khối u ác tính vùng má.
Theo bệnh sử, trước 2 tháng nhập viện, bà L. (63 tuổi) đã phát hiện khối cứng ở má trái, tăng dần kích thước theo thời gian và gây đau nhẹ khi ăn nhai. Vì nghĩ là viêm loét thông thường, bà không đi khám sớm, mà chỉ đợi khi tổn thương không cải thiện mới vào Bệnh viện Nguyễn Trãi kiểm tra.
Dựa trên kết quả khám lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh, bệnh nhân được xác định ung thư niêm mạc má trái giai đoạn 3. Do khối u xâm lấn sâu, nguy cơ ảnh hưởng chức năng ăn nhai và nuốt sau mổ, bệnh nhân được tư vấn kỹ về phương pháp phẫu thuật và nguy cơ biến chứng.
Song song đó, bà cũng được mở thông dạ dày để nuôi ăn trước mổ, nhằm đảm bảo dinh dưỡng và chuẩn bị thể trạng tốt nhất.
Sau khi cắt rộng khối u và nạo hạch cổ trái, ê-kíp điều trị tiếp tục mổ tái tạo khuyết hổng bằng vạt đảo dưới cằm. Đây là kỹ thuật đòi hỏi các bác sĩ phải kiểm soát toàn diện để đáp ứng an toàn, đồng thời đảm bảo tái tạo mô mềm giúp phục hồi chức năng và thẩm mỹ.
Hậu phẫu, bệnh nhân diễn tiến thuận lợi, vết thương lành tốt và xuất viện sau 5 ngày chăm sóc.
Các bác sĩ khuyến cáo, ung thư niêm mạc má thường khởi phát bằng những tổn thương nhỏ, dễ nhầm với loét miệng thông thường. Người dân cần đi khám ngay khi có các dấu hiệu loét miệng kéo dài trên 2 tuần không lành; có khối cứng vùng má, lưỡi hoặc sàn miệng; chảy máu bất thường trong khoang miệng.
"Người trên 40 tuổi, có tiền sử hút thuốc, uống rượu nên khám và tầm soát định kỳ để phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm, giúp nâng cao hiệu quả điều trị và chất lượng sống", bác sĩ hướng dẫn.

Tâm lý của bà Trà cũng là nỗi lo chung của rất nhiều người bệnh khi được chỉ định thực hiện các thủ thuật xâm lấn. Không ít người cho rằng "đi soi là phải soi ca đầu tiên" để hạn chế tối đa rủi ro lây nhiễm chéo các bệnh lý truyền nhiễm. Thậm chí, có người xin dời lịch sang hôm sau chỉ để giành được suất khám mở màn.
Nội soi tiêu hóa là thủ thuật dùng ống mềm nhỏ có gắn camera và đèn chiếu sáng để đưa trực tiếp vào bên trong đường tiêu hóa, giúp chẩn đoán các bệnh lý như viêm loét, phát hiện sớm ung thư và can thiệp như sinh thiết, cắt polyp, cầm máu. Do thiết bị luồn sâu và tiếp xúc trực tiếp dịch cơ thể, vấn đề vệ sinh, khử khuẩn luôn là mối bận tâm của người bệnh.
ThS.BS Trần Minh Tuấn, Chủ nhiệm Khoa Nội soi, Bệnh viện Quân y 175, cho biết nếu tuân thủ nghiêm quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn, xử lý thiết bị, chất lượng vô khuẩn của ống soi ở ca đầu tiên và ca cuối cùng trong ngày là hoàn toàn như nhau. Sự e ngại của người bệnh không phải không có cơ sở nếu quy trình khử khuẩn tại cơ sở y tế bị xem nhẹ.
Theo bác sĩ Tuấn, nếu ống nội soi không được làm sạch triệt để, người bệnh có nguy cơ lây nhiễm chéo các bệnh truyền nhiễm. Ngoài ra, do cấu trúc phức tạp với nhiều kênh nhỏ, thiết bị có thể giữ lại nước và dung dịch khử khuẩn trong quá trình xử lý. Nếu bước rửa lại bằng nước sạch không được thực hiện đầy đủ theo khuyến cáo, tồn dư hóa chất có thể xảy ra và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người bệnh sau
Để tránh các sự cố trên, nguyên tắc quan trọng là thiết bị phải di chuyển theo "đường một chiều". Tại khu vực khử khuẩn, hai khu bẩn - sạch được phân lập rạch ròi. Sau khi hoàn thành ca soi, ống dơ lập tức được đưa ra bằng cửa sau, đi thẳng vào khu xử lý.
Trước khi làm sạch, thiết bị được kiểm tra chất lượng, sau đó ống soi dạ dày và đại tràng được phân luồng riêng. Quy trình chuẩn gồm rửa nước, ngâm khử khuẩn, rửa lại và xịt khô. Để tối ưu, Bệnh viện Quân y 175 đầu tư 8 hệ thống máy rửa tự động vận hành khép kín, kiểm soát chặt thời gian, nồng độ và lưu lượng, giúp đảm bảo hiệu quả khử khuẩn, giảm sai sót và hạn chế tồn dư hóa chất cũng như tiếp xúc của nhân viên y tế với dung dịch khử khuẩn.
Sau khi làm sạch và làm khô, ống nội soi được lưu trữ trong tủ chuyên dụng có hệ thống khí lọc và kiểm soát môi trường, giúp giữ khô, hỗ trợ ngăn ngừa tái nhiễm và đảm bảo sẵn sàng sử dụng theo đúng khuyến cáo. Do vậy, chất lượng ống soi được đảm bảo đồng đều trong suốt ngày làm việc, không phụ thuộc thời điểm thăm khám là "ca đầu tiên" hay "ca cuối cùng".
Bác sĩ Tuấn khuyến cáo người bệnh không nên tự tạo áp lực tâm lý, chen lấn hay chờ đợi mệt mỏi chỉ để giành suất soi mở màn. Yếu tố cần thiết để đảm bảo an toàn là lựa chọn cơ sở y tế uy tín, đầu tư bài bản hệ thống kiểm soát nhiễm khuẩn và tuân thủ chặt chẽ quy chuẩn của Bộ Y tế. Thay vì lo lắng về thứ tự khám, người bệnh nên tập trung tuân thủ đúng hướng dẫn chuẩn bị trước thủ thuật, đặc biệt là khâu nhịn ăn uống và sử dụng thuốc làm sạch ruột đúng cách để có kết quả chẩn đoán chính xác nhất.
Lê Phương
Tin Gốc: https://vnexpress.net/thuc-hu-quan-niem-noi-soi-ca-dau-ngay-la-sach-nhat-5056047.html

