Nhiều phụ huynh vì muốn con cao lớn đã sắp xếp cho trẻ tập kéo giãn cơ (stretching) mỗi ngày. Tuy nhiên, chuyên gia dinh dưỡng sản nhi Tô Nghiên Thần chỉ ra rằng đây thực chất chỉ là một lời đồn thổi trên mạng xã hội. Dựa trên các bằng chứng khoa học hiện nay, chưa có nghiên cứu nào ủng hộ quan điểm này, việc kéo giãn cơ thực tế chỉ giúp tăng độ dẻo dai và linh hoạt của xương khớp.
Theo bà Tô Nghiên Thần, nếu thực sự muốn con phát triển chiều cao, các “bài tập nhảy” mới là chìa khóa mang lại hiệu quả rõ rệt.
Tại sao kéo giãn cơ xong cảm thấy cao hơn?
Trên trang cá nhân, chuyên gia Tô Nghiên Thần cho biết nhiều cha mẹ lầm tưởng con cao lên sau khi kéo giãn cơ, nhưng đa phần đây là sự khác biệt về thị giác do “cải thiện tư thế”. Việc tập luyện giúp lồng ngực mở rộng, cơ chân bớt căng cứng, từ đó trẻ đứng thẳng hơn, tạo cảm giác vóc dáng thanh thoát hơn chứ không phải xương thực sự dài ra.
Ngoài ra, chiều cao của trẻ vốn có sự chênh lệch giữa sáng và tối. Nghiên cứu chỉ ra rằng trẻ từ 3 đến 15 tuổi có chiều cao trung bình giảm khoảng 0,47 cm từ sáng đến chiều. Do đó, việc đo chiều cao vào các thời điểm khác nhau trong ngày dễ dẫn đến hiểu lầm rằng kéo giãn cơ có tác dụng tăng chiều cao.
Chuyên gia nhấn mạnh, việc nhầm lẫn giữa cải thiện tư thế, tăng độ dẻo dai với việc kích thích xương phát triển là rất phổ biến, nhưng thực tế những điều này không liên quan đến đĩa sụn tăng trưởng.
“Bài tập nhảy” – cú hích cho sự phát triển chiều cao
Để giúp trẻ “vượt chuẩn” về chiều cao, bà Tô Nghiên Thần chia sẻ rằng các bài tập nhảy cường độ cao mang lại lợi ích thiết thực hơn nhiều.
Dẫn chứng từ một nghiên cứu nước ngoài trên 47 trẻ em có chiều cao khiêm tốn, các em được thực hiện chương trình tập luyện trong 24 tuần, mỗi tuần 3 buổi, mỗi buổi 50 phút với các bộ môn như nhảy dây, nhảy một chân, nhảy từ bục xuống…
Kết quả bất ngờ sau 24 tuần: Nhóm trẻ này cao thêm trung bình khoảng 4,2 cm, so với nhóm đối chứng chỉ tăng 2,48 cm. Như vậy, nhóm vận động nhảy đã cao thêm gần 2 cm so với trẻ không tập luyện chuyên biệt. Đồng thời, mật độ xương đùi và xương cổ của các em cũng được cải thiện đáng kể.
Lời khuyên cho phụ huynh
Chuyên gia Tô Nghiên Thần nhắc nhở rằng sự phát triển chiều cao của trẻ phụ thuộc vào tổng hòa nhiều yếu tố: Di truyền, tuổi xương, thời điểm dậy thì, chế độ dinh dưỡng và chất lượng giấc ngủ.
Phụ huynh nên tập trung vào ba trụ cột chính:
Chế độ ăn uống cân bằng: Cung cấp đầy đủ dưỡng chất cần thiết.
Ngủ đủ giấc: Giúp hormone tăng trưởng tiết ra tối ưu.
Vận động phù hợp: Ưu tiên các bài tập có tác động lực lên xương như nhảy dây, bóng rổ thay vì chỉ tập trung vào kéo giãn cơ.
“Đây mới chính là những chìa khóa vàng giúp trẻ bứt phá chiều cao một cách khoa học và bền vững”, chuyên gia nói.
Trong chương trình khám, tư vấn và chụp X-quang miễn phí cho trẻ gù, vẹo cột sống diễn ra sáng 4-4 tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, các bác sĩ ghi nhận nhiều trường hợp trẻ em đến viện khi cột sống đã cong vẹo nghiêm trọng, có trường hợp lên tới 60 - 80 độ.
Một bé gái 11 tuổi ở Hà Nội được gia đình đưa đi khám khi cột sống đã vẹo tới 63 độ. Trước đó trẻ vẫn sinh hoạt bình thường, chỉ có biểu hiện lệch vai nhẹ nên không được chú ý.
Tương tự, nhiều trường hợp khác cũng được phát hiện muộn, có trẻ chưa đầy 10 tuổi đã vẹo trên 40 độ, thậm chí có cháu vẹo hơn 80 độ mới đến viện, khi cột sống đã biến dạng rõ rệt.
Theo các bác sĩ, điều đáng lo ngại là phần lớn trẻ đến khám khi bệnh đã tiến triển nặng. Việc phát hiện muộn khiến quá trình điều trị khó khăn hơn rất nhiều, đồng thời làm tăng nguy cơ biến chứng lâu dài.
PGS.TS Đinh Ngọc Sơn, Trưởng khoa phẫu thuật cột sống, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, cho biết vẹo cột sống là bệnh lý khá phổ biến ở trẻ em, chiếm khoảng 0,5 - 1% dân số.
Phần lớn các trường hợp không xác định được nguyên nhân, ngoài ra có thể liên quan đến dị tật bẩm sinh, bệnh lý thần kinh - cơ hoặc thói quen sinh hoạt sai tư thế kéo dài.
Theo bác sĩ Sơn, xu hướng trẻ đến khám muộn đang gia tăng. Khi đó cột sống không chỉ cong vẹo rõ rệt mà còn kéo theo nhiều hệ lụy nghiêm trọng đối với sức khỏe như biến chứng về hô hấp, tuần hoàn.
"Khi cột sống cong vẹo, lồng ngực bị biến dạng sẽ làm giảm thể tích phổi. Điều này khiến phổi không thể nở và phát triển bình thường. Ở những trường hợp nặng, một bên phổi có thể bị xẹp, dẫn đến suy giảm nghiêm trọng chức năng hô hấp", bác sĩ Sơn nói.
Theo bác sĩ Sơn, nguyên tắc quan trọng nhất trong điều trị vẹo cột sống là phát hiện sớm và can thiệp kịp thời. Nếu được phát hiện ở giai đoạn đầu, trẻ có nhiều lựa chọn điều trị và chưa chắc phải phẫu thuật.
Ở giai đoạn nhẹ, trẻ có thể chỉ cần tập các bài phục hồi chức năng, bơi lội hoặc vận động phù hợp để cải thiện tư thế.
Khi bệnh tiến triển hơn, bác sĩ sẽ chỉ định thêm áo chỉnh hình nhằm kiểm soát độ cong của cột sống. Loại áo này cần được đeo trong nhiều giờ mỗi ngày, có tác dụng nén và điều chỉnh cột sống.
Tuy nhiên theo các bác sĩ, việc đeo áo không thể thay thế hoàn toàn cho tập luyện. Nếu trẻ không vận động, cơ lưng sẽ yếu đi, làm giảm hiệu quả điều trị. Vì vậy việc duy trì tập luyện hằng ngày là rất cần thiết.
Chỉ khi các phương pháp bảo tồn không còn hiệu quả hoặc độ cong quá lớn, bác sĩ mới cân nhắc phẫu thuật.
Một trong những nguyên nhân khiến nhiều trẻ đến viện muộn là do phụ huynh chưa chú ý đến các dấu hiệu ban đầu của bệnh. Bác sĩ Sơn khuyến cáo việc phát hiện sớm vẹo cột sống không quá khó và hoàn toàn có thể thực hiện tại nhà.
Khi trẻ đứng thẳng, phụ huynh có thể quan sát xem hai vai có cân đối hay không, có hiện tượng lệch vai hay không. Khi trẻ cúi người về phía trước, nếu một bên lưng nhô cao hơn bên còn lại, đó có thể là dấu hiệu bất thường, cần đưa trẻ đi khám.
Bác sĩ cũng cảnh báo thói quen sinh hoạt không đúng như ngồi học sai tư thế, cúi gập người, mang cặp quá nặng hoặc ít vận động trong thời gian dài đều ảnh hưởng đến cột sống của trẻ.
Do đó phụ huynh, giáo viên cần chú ý điều chỉnh tư thế ngồi học, khuyến khích trẻ vận động thể chất thường xuyên và kiểm tra cột sống định kỳ, đặc biệt trong giai đoạn trẻ phát triển nhanh.
Tránh những sai lầm sau khi tập thể dục buổi sáng có thể giúp giảm nguy cơ chấn thương và đau mạn tính.
Tư thế và kỹ thuật là yếu tố then chốt quyết định mức độ an toàn khi tập luyện. Khi thực hiện sai động tác, lực sẽ phân bố không đúng lên các khớp và cơ, từ đó làm tăng nguy cơ chấn thương. Chẳng hạn, khi squat sai kỹ thuật như để gối đổ vào trong hoặc cong lưng, áp lực sẽ dồn lên khớp gối và cột sống thay vì phân bổ đều, chuyên trang sức khỏe Verywellfit (Mỹ).
Nghiên cứu trên Journal of Strength and Conditioning Research cho thấy tập sai kỹ thuật có thể làm tăng đáng kể áp lực lên mô mềm và khớp, từ đó làm tăng nguy cơ chấn thương. Ngoài ra, không kiểm soát chuyển động, ví dụ thả tạ quá nhanh, cũng khiến cơ và dây chằng chịu lực đột ngột. Để hạn chế rủi ro, người tập nên học kỹ thuật và tập đúng ngay từ đầu.
Nhiều người có suy nghĩ rằng cơ càng đau thì tập càng hiệu quả. Tuy nhiên, điều này không hoàn toàn đúng. Cần phân biệt giữa đau cơ thông thường sau tập và đau cơ do chấn thương. Đau cơ thông thường sẽ lan tỏa và giảm dần sau vài ngày, trong khi đau do chấn thương thường tập trung ở một vị trí, kéo dài và tăng khi vận động.
Tổ chức y tế phi lợi nhuận Mayo Clinic (Mỹ) cho biết nếu cơn đau kéo dài hoặc đi kèm sưng, yếu cơ thì nên ngừng tập và kiểm tra sớm. Đau là tín hiệu cảnh báo của cơ thể khi mô bị tổn thương. Nếu tiếp tục tập luyện trong tình trạng này, tổn thương có thể trở nên nghiêm trọng hơn, làm tăng nguy cơ rách cơ hoặc chấn thương khớp.
Tập khi đang mệt, thiếu ngủ hoặc chưa ăn đủ có thể làm giảm khả năng kiểm soát vận động. Khi đó, phản xạ chậm hơn, cơ dễ mất ổn định và nguy cơ sai kỹ thuật tăng lên. Tình trạng này sẽ làm tăng nguy cơ chấn thương khi vận động.
Chỉ tập một số bài quen thuộc mỗi ngày, chẳng hạn chỉ chạy bộ hoặc chỉ tập chân, có thể gây quá tải lặp lại lên cùng một nhóm cơ và khớp. Nghiên cứu đăng trên chuyên san Sports Medicine cho thấy các chấn thương do lặp lại thường xảy ra khi một mô phải chịu áp lực liên tục mà không có thời gian phục hồi hoặc không có sự thay đổi chuyển động.
Đa dạng bài tập giúp phân bổ áp lực lên nhiều nhóm cơ khác nhau, nhờ đó giảm áp lực lên một vùng cụ thể và cải thiện sự cân bằng cơ thể, theo Verywellfit.
PGS-TS, bác sĩ Lương Tuấn Khanh, Giám đốc Trung tâm Phục hồi chức năng, Bệnh viện Bạch Mai cho biết, trung tâm tiếp nhận nhiều người bệnh đến khám, điều trị trong tình trạng đau do viêm quanh khớp vai.
Nguyên nhân viêm quanh khớp vai do tổn thương các cấu trúc mô mềm quanh khớp như gân, cơ, dây chằng, bao khớp, không liên quan trực tiếp đến tổn thương xương hay sụn khớp, chủ yếu ở phần mô mềm, nhưng lại gây ảnh hưởng rất lớn đến chức năng vận động.
Có 4 thể bệnh thường gặp, trong đó, thể đơn thuần thường do bệnh lý gân cơ; thể đau vai cấp; thể đông cứng do viêm dính, co thắt bao khớp, bao khớp dày, dẫn đến giảm vận động khớp ổ chảo - cánh tay; thể giả liệt do đứt gân cơ trên gai. Trong thực tế, các thể trên có thể kết hợp với nhau.
Các tổn thương thường gặp nhất trong viêm quanh khớp vai là tổn thương các gân cơ xoay gân cơ nhị đầu và bao thanh mạc dưới mỏm cùng vai.
Bệnh thường xuất phát từ 3 cơ chế chính: thoái hóa gân và chóp xoay theo tuổi; viêm bao hoạt dịch, viêm gân do vận động căng giãn gân cơ khớp vai lặp lại; co rút bao khớp (đông cứng khớp vai) gây hạn chế vận động.
Ngoài ra, những yếu tố như: lao động tay quá đầu (các hoạt động sử dụng cánh tay ở vị trí cao hơn vai, quá tầm đầu trong thời gian dài, hoặc lặp lại); chơi thể thao lặp đi lặp lại (tennis, golf, pickleball…), chấn thương hoặc phẫu thuật vùng vai, ít vận động hoặc bất động kéo dài đều có thể thúc đẩy bệnh tiến triển.
Về điều trị viêm quanh khớp vai, bác sĩ Khanh chia sẻ, nguyên tắc điều trị gồm 3 yếu tố chính: giảm đau, chống viêm; phục hồi tầm vận động khớp vai tăng sức mạnh cơ và ổn định khớp.
Trong đó, phục hồi chức năng và tập vận động là nền tảng quan trọng nhất, quyết định kết quả lâu dài, giúp người bệnh quay trở lại với các chức năng sinh hoạt bình thường.
Bệnh nhân cần được điều trị kết hợp: vật lý trị liệu (điện trị liệu và nhiệt trị liệu như: siêu âm trị liệu, điện xung, laser công suất cao, sóng xung kích, sóng ngắn; chương trình tập vận động trị liệu theo phác đồ cá thể hóa) và thuốc giảm đau, chống viêm khi cần.
"Điểm mấu chốt là không chỉ điều trị triệu chứng mà phục hồi chức năng vận động thực sự cho người bệnh", bác sĩ Khanh cho biết.
"Do triệu chứng ban đầu khá nhẹ, người bệnh thường nghĩ là đau cơ thông thường nên không đi khám. Ngoài ra, nhiều người ngại vận động vì sợ đau, điều này lại khiến khớp càng cứng hơn, tạo thành vòng xoắn bệnh lý", bác sĩ Khanh lưu ý.
Thạc sĩ vật lý trị liệu Nguyễn Thành Nam (Trung tâm Phục hồi chức năng, Bệnh viện Bạch Mai), chia sẻ thêm khi tham gia điều trị người bệnh thường sợ đau nên không muốn trị liệu, tập vận động, ngại hoặc bỏ dở tập giữa chừng, khiến bệnh kéo dài hoặc nặng hơn.
Với mỗi người, khi áp dụng vật lý trị liệu cũng như tập vận động phục hồi chức năng, kỹ thuật viên sẽ cài đặt, điều chỉnh các phương pháp vật lý trị liệu, thiết kế bài tập phù hợp với từng giai đoạn và theo dõi phản ứng của người bệnh, điều chỉnh cường độ tập.
Người bệnh cần tập vận động đúng hướng dẫn và duy trì luyện tập đều đặn; không bỏ tập giữa chừng, tập quá sức; không tự ý tập theo mạng.