12 năm trước, khi còn non nớt và đầy nhiệt huyết, tôi từng nghĩ đến việc mở một nhà hàng theo mô hình quán ăn chay ở TP HCM, tập trung vào những món ăn đơn giản nhưng chỉnh chu, với tiêu chí: chỉ cần món ăn ngon, sạch sẽ là khách hàng sẽ tự tìm đến, sẽ quay lại, và quán sẽ đông khách từ ngày này sang ngày khác.
Nhưng thực tế phũ phàng đã dạy tôi một bài học sâu sắc: “ngon” chỉ là điểm khởi đầu, chứ không bao giờ là đích đến. Trong quá trình vận hành, tôi từng quyết định mở rộng thêm hai cơ sở mới với kỳ vọng sẽ giúp thương hiệu phát triển nhanh hơn. Tuy nhiên, khi hệ thống chưa đủ vững, việc mở rộng khiến chất lượng và trải nghiệm dịch vụ của khách hàng không còn đồng đều. Sau một thời gian, tôi quyết định đóng lại hai địa điểm này, chỉ giữ lại một quán duy nhất để tập trung cải thiện chất lượng.
Khi bắt tay vào làm, tôi mới nhận ra rằng giữa một thị trường F&B cạnh tranh khốc liệt – nơi có hàng trăm, hàng nghìn quán ăn mọc lên mỗi năm, việc chỉ dựa vào chất lượng món ăn ngon là chưa đủ. Nhiều quán có tô mì ngon xuất sắc, bún chuẩn vị, hay cà phê thơm lừng, nhưng vẫn phải đóng cửa sau một hai năm. Lý do không phải vì đồ ăn, thức uống của họ kém chất lượng, mà vì họ thiếu những thứ “vô hình” khác nhưng quyết định sự sống còn của một thương hiệu. Đó là cách giữ chân khách, cách vận hành bền vững, và cách xây dựng mối quan hệ lâu dài.
Món ăn là thứ khách chạm vào đầu tiên qua thị giác (màu sắc bắt mắt), khứu giác (mùi thơm quyến rũ), và vị giác (hương vị hài hòa). Một tô bún măng với nước dùng vàng óng, và chén nước mắm gừng ớt cay nồng, chắc chắn sẽ khiến thực khách ấn tượng ngay từ miếng đầu tiên. Đó là “cú hook” mạnh mẽ để khách quyết định thử và có thể quay lại lần thứ hai. Nhưng để họ quay lại lần thứ ba, thứ tư, và trở thành khách quen thậm chí giới thiệu cho bạn bè, người thân thì cần rất nhiều thứ khác:
>> Quán cà phê bán chai nước suối 15 K khi khách xin nước lọc
Đầu tiên là không gian và trải nghiệm tổng thể. Thực khách bây giờ không chỉ muốn ăn ngon, mà họ còn cần được “sống” trong không gian đó. Một quán sạch sẽ, ấm cúng, ánh sáng vừa phải, nhạc nền nhẹ nhàng sẽ khiến họ thoải mái, ngồi lâu hơn. Ngược lại, dù món ăn ngon đến mấy, nhưng bàn ghế bẩn, toilet kém vệ sinh, hay nhân viên phục vụ thờ ơ, khách sẽ chọn quán khác lần sau.
Thứ hai là dịch vụ và sự chân thành. Đây là yếu tố quyết định sự khác biệt của một quán. Chẳng hạn như nhân viên nhớ tên khách quen, nhớ sở thích của họ (ví dụ vị khách đó thích ít cay hơn và không biết ăn rau muống), hỏi han chân thành, xử lý khiếu nại nhanh chóng và tận tình… Những điều nhỏ này tạo cảm giác “được quan tâm”. Nhiều nghiên cứu và kinh nghiệm thực tế ở Việt Nam cho thấy, khách hàng thường quay lại không chỉ vì món ăn, mà vì cảm giác được đối xử như “người nhà” hoặc “bạn bè”.
Thứ ba là sự nhất quán và vận hành chuyên nghiệp. Hôm nay có thể món ăn ngon, nhưng bữa sau lại dở chính là lý do lớn khiến khách mất lòng tin. Muốn duy trì chất lượng món ăn ổn định, bạn phải có quy trình bếp rõ ràng, nguyên liệu tươi mới mỗi ngày, và đội ngũ được đào tạo tốt. Đồng thời, quản lý chi phí, dòng tiền, nhân sự cũng cực kỳ quan trọng. Ngành F&B có tỷ lệ thất bại cao (nhiều nơi ghi nhận khoảng 20-60% quán mới đóng cửa trong năm đầu), chủ yếu vì thiếu kế hoạch tài chính và khả năng thích ứng.
Cuối cùng là xây dựng mối quan hệ lâu dài. Đây mới là “chìa khóa vàng” để đi đường dài. Thay vì chỉ chạy quảng cáo tìm khách mới (chi phí cao), bạn phải biết tập trung chăm sóc khách cũ qua chính sách tích điểm, ưu đãi cá nhân hóa, chương trình thành viên, hoặc đơn giản là tương tác trên mạng xã hội. Khách quen sẽ trở thành “đại sứ thương hiệu” miễn phí, họ chia sẻ ảnh món ăn đẹp, tag bạn bè, và mang cả gia đình đến trong những lần sau.
Những biến động lớn nhất đến từ việc phải liên tục điều chỉnh mô hình vận hành, đặc biệt trong giai đoạn thị trường thay đổi và dịch bệnh, buộc tôi phải tìm cách tối ưu chi phí, tinh gọn đội ngũ và thích nghi với nhu cầu mới của khách hàng. Đến hiện tại, quán ăn của tôi vẫn tồn tại và đi tiếp không phải vì mở rộng nhanh, mà nhờ tập trung vào sự ổn định: giữ chất lượng món ăn nhất quán, cải thiện trải nghiệm khách hàng, và xây dựng mối quan hệ lâu dài với khách quen.
Từ hành trình của mình, tôi học được rằng kinh doanh F&B giống như một cuộc hôn nhân dài hạn: món ăn ngon là sự hấp dẫn ban đầu, nhưng sự thấu hiểu, kiên trì và chăm sóc hàng ngày mới giữ được tình cảm. Mỗi ngày, tôi đều tự hỏi: hôm nay khách có cảm thấy vui khi đến quán không? Nhân viên có được hỗ trợ tốt để phục vụ tận tâm không? Mọi thứ có thực sự cân bằng giữa lợi nhuận và giá trị mang lại cho khách?
Sau hơn 10 năm hoạt động trong ngành, tôi không còn ảo tưởng rằng chỉ cần “nấu ngon” là đủ. Thay vào đó, tôi tập trung vào việc xây dựng một hệ thống: từ bếp núc đến phục vụ, từ marketing đến chăm sóc khách hàng, tất cả đều hướng tới một mục tiêu duy nhất tạo ra sự gắn kết.
Nếu bạn đang ấp ủ mở quán, hoặc đã và đang kinh doanh F&B, tôi muốn gửi một lời khuyên chân thành: hãy đầu tư mạnh vào món ăn, đồ uống ngon làm “vốn liếng ban đầu”, nhưng hãy dành nhiều tâm huyết hơn cho dịch vụ, không gian, sự nhất quán và mối quan hệ với khách. Đó chính là những thứ sẽ giúp bạn trụ vững và phát triển bền vững trong một thị trường đầy thử thách như hiện nay.
Tôi là thành viên của một nhóm học thuật trên mạng xã hội từ lâu. Thành viên của nhóm là người Việt Nam trên toàn thế giới đã, đang và sẽ có ý định đi theo con đường học thuật.
Đến nay, số thành viên đã hơn trăm nghìn và tôi tin trong đó rất nhiều đã tốt nghiệp tiến sĩ. Đây là tín hiệu tích cực. Phần nhiều trong số đó đang định cư tại nước ngoài và có ý định trở về Việt Nam sinh sống, làm việc.
Cũng nhiều trong số đó đã lập gia đình, có con cái. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi đưa ra quan sát cá nhân về nhưng bài viết và bình luận trên nhóm kết hợp với những trường hợp mình quan sát ngoài đời thực.
Việc ở lại làm đúng chuyên ngành, có vị trí ổn định nói chung, đặc biệt trong môi trường học thuật là điều khó vô cùng. Khi một vị trí đưa ra là có tới hàng trăm, hàng nghìn hồ sơ xuất sắc trên thế giới ứng nộp chưa kể xác suất cao là hội đồng đã có ứng viên sáng giá được đề cử trước dựa trên năng lực và mạng lưới quen biết.
Tôi sống ở Đức và làm việc trong ngành Y sinh. Tôi biết không ít người làm xong tiến sĩ nhưng rồi để đi tới đích là một vị trí vĩnh viễn trong ngành học thuật chỉ đếm đầu ngón tay.
Có nhiều người cố gắng làm sau tiến sĩ (Postdoc) đến khi nào hết quy định thì thôi (thường là 12 năm làm nghiên cứu và không tìm được vị trí vĩnh viễn). Lúc này bài toán đặt ra và vô cũng nan giải. Làm gì tiếp theo khi mà con cái đã lớn đều đã hòa nhập tốt vào môi trường bên này? Ở lại thì không có việc phù hợp.
Nhiều người đi làm việc bình thường trong siêu thị, bệnh viện, nhà máy với mức thu nhập tối thiểu theo quy định như những người không được đào tạo. Nếu ai hài lòng thì tốt, cả gia đình tổng hòa sẽ vui vẻ.
Nhưng nếu không chấp nhận, cơn bão ngầm bắt đầu nổi lên khi họ muốn về nước để tìm được công việc phù hợp, được tôn trọng và còn một lý do khác nữa là gần cha mẹ già.
Mọi thứ sẽ thực sự không dễ thở với những ai có gia đình, con cái. Ở bên này, anh em có dịp nói chuyện với nhau đều thống nhất rằng nếu hai vợ chồng đi làm mức lương tối thiểu thì cơ bản sẽ đủ tiêu và dư chút. Hàng năm vẫn đi chơi thoải mái và vài năm về nước một lần.
Ba vấn đề tôi mạn phép chia sẻ ở đây là nhà ở, y tế và môi trường nghiên cứu.
Đầu tiên là nhà ở, nước Đức có tỷ lệ sở hữu nhà riêng là khoảng 50%. Tức là 50% số người như tôi vẫn đang đi thuê mà rất yên tâm. Luật của Đức bảo vệ quyền lợi người thuê bằng quy định.
Chủ cho thuê không đuổi vô tội vạ trừ khi người thuê làm hỏng nhà đến mức tệ hoặc chủ muốn lấy lại nhà để ở hoặc cho con. Giá cho thuê chỉ được tăng vài phần trăm sau vài năm.
Tuy có một số mặt trái nhưng đa phần người thuê sẽ yên tâm khi ở nhà thuê trong khoảng thời gian dài. Nếu mua nhà sở hữu thì sẽ phải tuân thủ quy định về thời gian sau ở bao lâu mới được bán cũng như đóng thuế phần chênh lệch.
Có lẽ đó là hai yếu tố chính khiến thị trường mua và thuê ở đây có sự ổn định, không tăng giảm quá sốc.
Tôi nghĩ nếu cơ quan chức năng vào cuộc và đưa các quy định rõ ràng hơn và ràng buộc pháp lý khi thuê nhà cũng như mua nhà thì đại đa số người dân trong đó có những người muốn trở về sẽ không phải quá trăn trở về chỗ ở, một khoản chi tiêu lớn hàng tháng cho hộ gia đình.
Về y tế, Đức thực hiện chính sách y tế toàn dân. Tức là ai cũng có bảo hiểm và được chữa trị giá hợp lí, không phát sinh nhiều chi phí y tế ngoài bảo hiểm. Đặc biệt Đức chịu chi rất nhiều cho khám sàng lọc ở mọi lứa tuổi.
Họ biết rằng nếu chi cho sàng lọc tốt thì chữa sẽ giảm chi phí nhiều. Bên cạnh việc chi thường xuyên cho nhiều xét nghiệm sàng lọc thường niên, một sáng kiến rất hay đưa ra là một năm một người sẽ được bảo hiểm công chi tới 500 Euro cho sàng lọc phụ thêm như sàng lọc ung thư da, làm sạch răng, tiêm phòng ra nước ngoài...
Chúng ta có thể bắt đầu bằng những gói phụ sàng lọc hỗ trợ từ năm trăm nghìn đến vài triệu đồng một năm tùy đối tượng. Làm được tốt từ khâu khám sàng lọc thì khâu chữa chúng ta sẽ tiết kiệm được chi phí y tế rất nhiều, một cấu thành lớn trong chi tiêu mà những người đang ở bên nước phát triển có nền y tế toàn dân rất quan tâm khi trở về.
Việc xin dự án nghiên cứu ở Đức là tương đối cạnh tranh và minh bạch. Nhà khoa học được dành nhiều thời gian cho nghiên cứu và có thời gian không quá nhiều cho giảng dạy.
Việt Nam vẫn nên duy trì các quỹ nghiên cứu, đó là mạch máu nuôi dưỡng sức sống của người làm khoa học.
Về phía mỗi cá nhân, khi trở về đều nên hiểu và chuẩn bị cho một kịch bản sống mang nhiều khác biệt. Lấy việc ở gần cha mẹ, họ hàng, được nói ngôn ngữ của mình là điểm cộng để tự động viên bản thân cho hành trình trở về.
Ngay cả tại Trung Quốc, một nước đi trước chúng ta nhiều năm, quá trình đi và trở về cũng đang diễn ra và như những đồng nghiệp, hàng xóm tôi biết người Trung Quốc ở bên Đức, việc đi hay ở cũng không thuận lợi với bất kỳ ai.
Quyết định cuối cùng là của mỗi cá nhân và xin chúc mọi người đều vui vẻ với quyết định của mình.
Mỗi mùa bế giảng đi qua, tôi lại nghe người ta nói đi nói lại một câu quen thuộc: "Giáo viên sướng thật, nghỉ hè hai tháng mà lương vẫn đều". Mới đây, một quy định mới về việc giáo viên được nghỉ hè 8 tuần, hưởng nguyên lương và phụ cấp, vô tình lại thổi bùng lên những tranh cãi ấy.
Nghe qua, nhiều người dễ hình dung đó là một khoảng thời gian thảnh thơi, đủ dài để giáo viên có thể thảnh thơi rời xa công việc. Nhưng thực tế của nghề này lại không vận hành theo cách mà những con số có thể diễn đạt trọn vẹn. Bởi nếu chỉ nhìn vào thời gian "được nghỉ", ta sẽ vô tình bỏ qua phần thời gian "vẫn đang làm" của nhà giáo, chỉ là họ không còn đứng trên bục giảng.
Giáo viên vẫn có thể được gọi trở lại bất cứ lúc nào cho những nhiệm vụ không thể trì hoãn: coi thi, chấm thi, tập huấn chuyên môn, hỗ trợ tuyển sinh... Những công việc ấy không ồn ào, nhưng lại đòi hỏi sự tập trung và trách nhiệm không kém, thậm chí có lúc còn căng thẳng hơn cả giờ lên lớp.
Vì thế, nói giáo viên "nghỉ hè" không có nghĩa là họ được "nghỉ hoàn toàn". Đó giống như một quãng chuyển nhịp từ dạy học trực tiếp sang những công việc phía sau "cánh gà", nơi ít được nhắc đến nhưng lại giữ vai trò không thể thay thế. Từng đi qua nghề này, nên tôi hiểu: có những áp lực không nằm ở số tiết dạy, mà nằm ở trách nhiệm phải làm cho đúng ngay cả khi lớp học đã vắng tiếng học trò.
Giáo viên không làm việc theo kiểu đến cơ quan, chấm công rồi ra về. Công việc của họ không kết thúc khi hết giờ học, và cũng không bắt đầu khi tiếng trống vang lên. Nó trải dài theo năm học, dồn lại ở những giai đoạn cao điểm như kiểm tra, thi cử, tổng kết - nơi mà cường độ làm việc không chỉ tăng lên, mà đôi khi còn "chiếm trọn" cả thời gian riêng tư. Có những buổi tối sửa bài đến khuya, những ngày cuối kỳ gần như không có khái niệm nghỉ ngơi. Nhưng những phần việc ấy lại không hiện lên trên bảng chấm công.
Có một sự thật là giáo viên hiếm khi "nghỉ hè" theo đúng nghĩa của hai chữ ấy. Mùa hè đến, lớp học khép lại, nhưng công việc thì không. Người thì tranh thủ học thêm để theo kịp đổi mới chương trình, người lặng lẽ chuẩn bị giáo án cho năm học mới, chỉnh sửa từng chi tiết nhỏ với mong muốn lần dạy sau sẽ tốt hơn.
Vì thế, tôi cho rằng, nếu chia đều công sức trong suốt một năm, việc giáo viên được "nghỉ hè 8 tuần, hưởng nguyên lương và phụ cấp" không phải là ưu đãi đặc biệt, mà là phần được trả đủ cho một chu kỳ lao động đã bị nén chặt. Lương trong mùa hè, suy cho cùng, không phải là tiền cho sự nhàn rỗi, mà là cách hệ thống trả công cho những tháng ngày làm việc không có ranh giới rõ ràng giữa giờ làm và giờ nghỉ.
Hiểu như vậy để thấy, câu chuyện không nằm ở việc giáo viên có "được ưu ái" hay không, mà là chúng ta có nhìn đúng giá trị lao động của họ hay chưa? Và khi nhìn đúng, có lẽ sẽ bớt đi những so sánh vội vàng để thay vào đó là một cách nhìn công bằng hơn và cũng nhân văn hơn với một nghề vốn đã quen với việc cho đi nhiều hơn nhận lại.
Điều đáng quan tâm hơn là những thay đổi ấy có đủ để giáo viên bớt phải lo toan, để họ có thể tạm gác công việc mà nghỉ ngơi đúng nghĩa, không còn mang theo nỗi bận tâm về cơm áo hay áp lực chuyên môn. Bởi suy cho cùng, một nền giáo dục muốn bền vững thì không chỉ cần những chính sách đúng, mà còn cần những con người đủ sức đi đường dài. Và để đi được đường dài, cần có lúc dừng lại để giữ cho người thầy còn đủ sức đi tiếp trên con đường đã chọn.
Thời gian qua có nhiều quy định được ban hành xung quanh hành vi ép người khác uống rượu bia và hút thuốc lá điện tử. Cụ thể, Nghị định 90/2026 vừa được Chính phủ ban hành, quy định mức xử phạt từ 3 đến 5 triệu đồng cho hành vi sử dụng thuốc lá điện tử hoặc thuốc lá nung nóng. Hay Nghị định 90/2026 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế quy định hành vi lôi kéo, ép buộc người khác uống rượu bia hoặc sử dụng thức uống này ngay trước, trong giờ làm việc, học tập sẽ khiến người vi phạm bị xử phạt 1-3 triệu đồng.
Tôi hoàn toàn ủng hộ các quy định trên. Nhưng điều khiến tôi băn khoăn không nằm ở con số xử phạt. Các mức phạt đã có đủ hết, nhưng thực tế đã có ai bị phạt chưa, tố giác vi phạm thế nào, ai xử phạt?
Lấy chính trường hợp của bản thân, tôi thường xuyên bị sếp gọi đi nhậu (thực chất là ép vì không đi không được). Trong những buổi như vậy, các đồng nghiệp của tôi hút thuốc lá (cả loại truyền thống lẫn thuốc lá điện tử) là chuyện cơm bữa. Tôi không muốn uống rượu bia, cũng không hút thuốc, nhưng vẫn phải ngồi đó trong hơi men và giữa làn khói trắng. Nếu những hành vi ấy là vi phạm, thì tôi phải làm gì? Tố giác ư? Với ai? Và rồi chuyện gì sẽ xảy ra sau đó?
>> Kết quả sau nửa năm trời tôi từ chối tất cả lời mời nhậu
Không chỉ trong môi trường công sở. Ở nơi công cộng, tôi vẫn thường xuyên bắt gặp người hút thuốc lá điện tử. Có những lúc tôi tự hỏi: nếu muốn phản ánh, tôi phải báo cho ai? Liệu bản thân có bị liên lụy gì không? Hay chỉ có thể nhắc nhở rồi thôi? Những câu hỏi rất cụ thể ấy, nếu không có câu trả lời rõ ràng, thì quy định dù đúng đến đâu cũng dễ rơi vào tình trạng "biết là có, nhưng khó áp dụng".
Thực tế, không phải ai cũng đủ hiểu biết pháp luật và dũng khí để đứng ra tố giác, nhất là khi người vi phạm lại là cấp trên, đồng nghiệp, hay đơn giản là những người xa lạ nhưng có thể phản ứng tiêu cực. Nếu không có một cơ chế thực thi rõ ràng, dễ tiếp cận và an toàn, thì gánh nặng lại quay về phía người bị ảnh hưởng.
Có thể đó là một đường dây nóng dễ nhớ, một ứng dụng phản ánh nhanh, bảo mật danh tính, hay đơn giản là quy định rõ trách nhiệm của lực lượng tại chỗ như công an, quản lý trật tự, ban quản lý địa điểm công cộng... Khi người dân biết rõ, "gõ cửa" đúng nơi, pháp luật mới có cơ hội đi vào đời sống.
Tôi ủng hộ các quy định mới, nhưng sự ủng hộ đó đi kèm một kỳ vọng: luật không chỉ để đọc, mà phải để dùng. Và muốn dùng được, thì người như tôi cần biết rõ mình phải làm gì, khi nào, và ai sẽ đứng ra bảo vệ mình nếu tôi lên tiếng?