Đại diện Sở Y tế TP HCM cho biết hiện 102 ca theo dõi ngoại trú và 46 ca điều trị tại các cơ sở y tế. Bệnh viện Nhân dân Gia Định tiếp nhận nhiều nhất với 48 ca, trong đó 13 em đã xuất viện, 35 em còn điều trị. Các em đến viện với các triệu chứng nghi ngộ độc thực phẩm như sốt, đau bụng, nôn ói, tiêu chảy.
Bệnh viện Nhi Đồng 2 tiếp nhận 15 ca, trong đó 9 ca điều trị nội trú, 6 ca theo dõi tại nhà. Bệnh viện Đa khoa Bình Thạnh ghi nhận 72 ca, chủ yếu tình trạng ổn định và điều trị ngoại trú, 2 trường hợp đang theo dõi tại viện. Trạm Y tế phường Bình Quới tiếp nhận 13 ca nhẹ nên cấp thuốc và cho về theo dõi tại nhà.
Sở Y tế TP HCM chỉ đạo các bệnh viện theo dõi sát, điều trị theo hướng dẫn và lấy mẫu xét nghiệm xác định tác nhân. Trung tâm Kiểm soát bệnh tật TP HCM phối hợp Sở An toàn thực phẩm và Trường Tiểu học Bình Quới Tây tiếp tục điều tra dịch tễ, xét nghiệm độc chất để làm rõ nguyên nhân vụ việc.
Hiện chưa rõ các cháu xuất hiện triệu chứng bất thường do ăn món gì và ăn ở đâu. Các xét nghiệm mẫu bệnh phẩm cũng chưa có kết quả.
Trước đó, lãnh đạo nhà trường cho hay ngay đầu giờ sáng 8/4 nhiều học sinh khối 1-3 đã có biểu hiện mệt, sốt. Trường đã dừng tổ chức ăn bán trú, mẫu thức ăn ngày 7-8/4 được gửi xét nghiệm, dự kiến có kết quả ngày 14/4.
Lê Phương
Tin Gốc: https://vnexpress.net/so-hoc-sinh-tp-hcm-nghi-ngo-doc-thuc-pham-tang-len-148-5060737.html

Một nghiên cứu công bố trên tạp chí Environmental Science and Technology của Viện Đại học California, Davis (UC Davis, UCD, hoặc Davis) lại đưa ra cảnh báo đáng lo ngại: hít phải các hợp chất khử trùng có thể gây tổn thương phổi nghiêm trọng hơn nhiều so với đường tiêu hóa.
Trọng tâm của nghiên cứu là nhóm hợp chất amoni bậc bốn, còn gọi là QAC, một thành phần phổ biến trong nhiều sản phẩm khử trùng từ thập niên 1940, như Lysol hay Roccal. Đây là các chất có khả năng tiêu diệt vi khuẩn, vi rút hiệu quả, nên được sử dụng rộng rãi trong gia đình, bệnh viện và công nghiệp.
Dù không dễ bay hơi, QAC thường xuất hiện trong các dạng xịt, khiến chúng có thể phát tán thành các hạt nhỏ trong không khí và dễ dàng đi vào đường hô hấp. Ngoài ra, các hợp chất này còn có mặt trong nhiều sản phẩm khác như nước súc miệng, thuốc xịt mũi, giấy thơm hay nước làm mềm vải, làm tăng nguy cơ phơi nhiễm một cách vô thức.
Kết quả gây bất ngờ: Hít vào độc hơn gấp 100 lần so với nuốt.
Theo nhóm nghiên cứu do Gino Cortopassi dẫn đầu, thí nghiệm trên chuột cho thấy khi hít phải QAC, mức độ tổn thương phổi và nguy cơ tử vong cao hơn tới 100 lần so với khi các chất này được đưa vào cơ thể qua đường uống.
Đáng chú ý, ở mức phơi nhiễm tương đương với nồng độ QAC từng được ghi nhận trong máu người, chuột đã xuất hiện tổn thương phổi rõ rệt.
Điều này làm dấy lên lo ngại rằng con người cũng có thể đối mặt với những rủi ro tương tự khi thường xuyên sử dụng các sản phẩm xịt khử trùng.
Cơ chế chính nằm ở cách cơ thể phản ứng với các chất xâm nhập. Khi nuốt phải, hệ tiêu hóa có thể phần nào xử lý và đào thải các chất độc. Ngược lại, khi hít vào, các hạt hóa chất siêu nhỏ có thể đi sâu vào phổi, tiếp xúc trực tiếp với các tế bào hô hấp mỏng manh và gây tổn thương nhanh chóng.
Phổi không chỉ là cơ quan trao đổi khí mà còn rất nhạy cảm với các tác nhân hóa học. Một khi bị tổn thương, quá trình phục hồi thường chậm và có thể dẫn đến các bệnh mạn tính.
Nghiên cứu đặt ra nghi vấn về mối liên hệ giữa việc tiếp xúc lâu dài với QAC trong không khí và các bệnh như hen suyễn hay bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính. Đây đều là những bệnh lý đang gia tăng trên toàn cầu, đặc biệt ở các đô thị và môi trường kín.
Trước đó, một nghiên cứu năm 2021 cũng phát hiện khoảng 80% người tham gia có thể phát hiện QAC trong máu. Những người có nồng độ cao hơn lại có mức năng lượng tế bào thấp hơn, cho thấy ảnh hưởng tiêu cực đến ty thể,"nhà máy năng lượng" của tế bào.
Điều đáng nói là QAC không dễ hấp thu qua da hay đường tiêu hóa, khiến các nhà khoa học nghi ngờ rằng đường hô hấp chính là con đường xâm nhập chủ yếu.
Phát hiện này không đồng nghĩa với việc cần loại bỏ hoàn toàn các sản phẩm khử trùng, nhưng đặt ra yêu cầu phải sử dụng chúng một cách thận trọng hơn.
Việc lạm dụng xịt khử trùng trong không gian kín, không thông gió có thể vô tình khiến người dùng hít phải lượng hóa chất vượt mức an toàn.
Các chuyên gia khuyến nghị nên hạn chế sử dụng dạng xịt khi không cần thiết, ưu tiên lau chùi bằng dung dịch thay vì phun trực tiếp vào không khí, và đảm bảo không gian được thông thoáng khi vệ sinh.
Trong bối cảnh các bệnh truyền nhiễm vẫn là mối đe dọa, việc duy trì vệ sinh là cần thiết. Tuy nhiên, nghiên cứu từ University of California, Davis nhấn mạnh rằng không phải mọi phương pháp khử khuẩn đều vô hại.
Câu hỏi đặt ra không phải là "có nên khử trùng hay không", mà là "khử trùng như thế nào để an toàn". Việc hiểu rõ cơ chế tác động của hóa chất sẽ giúp người tiêu dùng đưa ra lựa chọn thông minh hơn, tránh những rủi ro tiềm ẩn cho sức khỏe lâu dài.
Tin Gốc: https://tuoitre.vn/canh-giac-gi-khi-su-dung-hoa-chat-khu-trung-pho-bien-20260405233215729.htm
Sức Khỏe
Những sai lầm khiến tình trạng đau, 'đông cứng' khớp vai ngày càng nặng

PGS-TS, bác sĩ Lương Tuấn Khanh, Giám đốc Trung tâm Phục hồi chức năng, Bệnh viện Bạch Mai cho biết, trung tâm tiếp nhận nhiều người bệnh đến khám, điều trị trong tình trạng đau do viêm quanh khớp vai.
Nguyên nhân viêm quanh khớp vai do tổn thương các cấu trúc mô mềm quanh khớp như gân, cơ, dây chằng, bao khớp, không liên quan trực tiếp đến tổn thương xương hay sụn khớp, chủ yếu ở phần mô mềm, nhưng lại gây ảnh hưởng rất lớn đến chức năng vận động.
Có 4 thể bệnh thường gặp, trong đó, thể đơn thuần thường do bệnh lý gân cơ; thể đau vai cấp; thể đông cứng do viêm dính, co thắt bao khớp, bao khớp dày, dẫn đến giảm vận động khớp ổ chảo - cánh tay; thể giả liệt do đứt gân cơ trên gai. Trong thực tế, các thể trên có thể kết hợp với nhau.
Các tổn thương thường gặp nhất trong viêm quanh khớp vai là tổn thương các gân cơ xoay gân cơ nhị đầu và bao thanh mạc dưới mỏm cùng vai.
Bệnh thường xuất phát từ 3 cơ chế chính: thoái hóa gân và chóp xoay theo tuổi; viêm bao hoạt dịch, viêm gân do vận động căng giãn gân cơ khớp vai lặp lại; co rút bao khớp (đông cứng khớp vai) gây hạn chế vận động.
Ngoài ra, những yếu tố như: lao động tay quá đầu (các hoạt động sử dụng cánh tay ở vị trí cao hơn vai, quá tầm đầu trong thời gian dài, hoặc lặp lại); chơi thể thao lặp đi lặp lại (tennis, golf, pickleball…), chấn thương hoặc phẫu thuật vùng vai, ít vận động hoặc bất động kéo dài đều có thể thúc đẩy bệnh tiến triển.
Về điều trị viêm quanh khớp vai, bác sĩ Khanh chia sẻ, nguyên tắc điều trị gồm 3 yếu tố chính: giảm đau, chống viêm; phục hồi tầm vận động khớp vai tăng sức mạnh cơ và ổn định khớp.
Trong đó, phục hồi chức năng và tập vận động là nền tảng quan trọng nhất, quyết định kết quả lâu dài, giúp người bệnh quay trở lại với các chức năng sinh hoạt bình thường.
Bệnh nhân cần được điều trị kết hợp: vật lý trị liệu (điện trị liệu và nhiệt trị liệu như: siêu âm trị liệu, điện xung, laser công suất cao, sóng xung kích, sóng ngắn; chương trình tập vận động trị liệu theo phác đồ cá thể hóa) và thuốc giảm đau, chống viêm khi cần.
"Điểm mấu chốt là không chỉ điều trị triệu chứng mà phục hồi chức năng vận động thực sự cho người bệnh", bác sĩ Khanh cho biết.
"Do triệu chứng ban đầu khá nhẹ, người bệnh thường nghĩ là đau cơ thông thường nên không đi khám. Ngoài ra, nhiều người ngại vận động vì sợ đau, điều này lại khiến khớp càng cứng hơn, tạo thành vòng xoắn bệnh lý", bác sĩ Khanh lưu ý.
Thạc sĩ vật lý trị liệu Nguyễn Thành Nam (Trung tâm Phục hồi chức năng, Bệnh viện Bạch Mai), chia sẻ thêm khi tham gia điều trị người bệnh thường sợ đau nên không muốn trị liệu, tập vận động, ngại hoặc bỏ dở tập giữa chừng, khiến bệnh kéo dài hoặc nặng hơn.
Với mỗi người, khi áp dụng vật lý trị liệu cũng như tập vận động phục hồi chức năng, kỹ thuật viên sẽ cài đặt, điều chỉnh các phương pháp vật lý trị liệu, thiết kế bài tập phù hợp với từng giai đoạn và theo dõi phản ứng của người bệnh, điều chỉnh cường độ tập.
Người bệnh cần tập vận động đúng hướng dẫn và duy trì luyện tập đều đặn; không bỏ tập giữa chừng, tập quá sức; không tự ý tập theo mạng.

Theo tiến sĩ - bác sĩ Ketan Bulsara, Giám đốc Trung tâm Đột quỵ tại Cleveland Clinic (Mỹ), cơ chế liên quan giữa nắng nóng và đột quỵ là rất thực tế. Trong điều kiện nhiệt độ cao, cơ thể mất nước và muối khoáng nhanh chóng. Khi đó, máu trở nên cô đặc hơn, tâm thất và mạch máu phải làm việc nhiều hơn, làm tăng nguy cơ hình thành cục máu đông - nguyên nhân chính gây ra đột quỵ thiếu máu cục bộ.
Một nghiên cứu đăng trên Harvard Health Publishing (Mỹ) cũng ghi nhận rằng môi trường nhiệt độ cao có thể tác động xấu đến hệ tuần hoàn. Dữ liệu lớn được thu thập từ các bệnh viện trên khắp nước Mỹ cho thấy nguy cơ nhập viện vì đột quỵ tăng lên trong những ngày nắng nóng, đặc biệt ở người cao tuổi, người có bệnh nền tim mạch, huyết áp cao hoặc tiểu đường.
Bên cạnh đó, tiến sĩ - bác s Rebecca Fieles, chuyên gia thần kinh của University of Maryland Medical Center (Mỹ), cho biết nắng nóng còn có thể làm tăng nguy cơ xuất huyết não - một dạng đột quỵ nghiêm trọng khác.
Nhiệt độ cao khiến các mạch máu bị giãn nở và áp lực tuần hoàn thay đổi thất thường, nhất là ở người có vữa xơ động mạch. Sự mất cân bằng này có thể dẫn tới vỡ mạch, gây xuất huyết trong não.
Một tổng quan đăng tải trên tạp chí Frontiers in Neurology cũng chỉ ra rằng nhiệt độ thời tiết cực đoan (quá nóng hoặc quá lạnh) đều liên quan tới nguy cơ đột quỵ tăng lên, đặc biệt ở những người có bệnh nền từ trước. Sự mất nước, rối loạn điện giải và thay đổi huyết áp thất thường khi thời tiết nóng là những yếu tố làm não thiếu oxy nhanh hơn, từ đó tác động tới nguy cơ tai biến.
Không chỉ vậy, điều mà nhiều người hay bỏ qua là ”đột quỵ nhiệt” - tình trạng đột ngột suy giảm chức năng não do nhiệt độ cơ thể quá cao (trên 40 °C). Biến chứng này có thể xảy ra khi cơ thể không kịp thích nghi với nhiệt độ cao, dẫn đến tổn thương tế bào não và hệ thần kinh nếu không được sơ cứu kịp thời.
Các chuyên gia đều nhấn mạnh rằng nắng nóng không trực tiếp “gây” đột quỵ đối với người hoàn toàn khỏe mạnh, nhưng ở những người có yếu tố nguy cơ (cao huyết áp, rối loạn mỡ máu, tiểu đường, tiền sử tim mạch hoặc đột quỵ), nhiệt độ cao là “chất xúc tác” nguy hiểm khiến bệnh tiến triển nhanh và biến chứng nặng.
Do đó, phòng ngừa đột quỵ mùa nắng nóng - đặc biệt ở người cao tuổi - cần chú trọng:

